<?xml version='1.0' encoding='UTF-8'?><?xml-stylesheet href="http://www.blogger.com/styles/atom.css" type="text/css"?><feed xmlns='http://www.w3.org/2005/Atom' xmlns:openSearch='http://a9.com/-/spec/opensearchrss/1.0/' xmlns:georss='http://www.georss.org/georss' xmlns:gd='http://schemas.google.com/g/2005' xmlns:thr='http://purl.org/syndication/thread/1.0'><id>tag:blogger.com,1999:blog-9009333266934427487</id><updated>2011-07-08T15:39:35.394-07:00</updated><title type='text'>TRÊN ĐƯỜNG BIÊN GIỚI</title><subtitle type='html'>Văn Tuyển xuất bản lần thứ nhất năm 1999.
Đất Sống tái bản năm 2007</subtitle><link rel='http://schemas.google.com/g/2005#feed' type='application/atom+xml' href='http://trenduongbiengioi.blogspot.com/feeds/posts/default'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/9009333266934427487/posts/default?max-results=100'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://trenduongbiengioi.blogspot.com/'/><link rel='hub' href='http://pubsubhubbub.appspot.com/'/><author><name>Vũ Uyên Giang</name><uri>http://www.blogger.com/profile/14317469376846546930</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='27' height='32' src='http://4.bp.blogspot.com/_a9tmOxlA1Y8/SurV9bfSPWI/AAAAAAAAAAU/3GQa-eia6Kw/S220/vinh1.jpg'/></author><generator version='7.00' uri='http://www.blogger.com'>Blogger</generator><openSearch:totalResults>7</openSearch:totalResults><openSearch:startIndex>1</openSearch:startIndex><openSearch:itemsPerPage>100</openSearch:itemsPerPage><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-9009333266934427487.post-363012271717482528</id><published>2010-07-14T04:51:00.000-07:00</published><updated>2010-07-14T04:54:35.689-07:00</updated><title type='text'></title><content type='html'>&lt;a onblur="try {parent.deselectBloggerImageGracefully();} catch(e) {}" href="http://3.bp.blogspot.com/_a9tmOxlA1Y8/TD2lImgFjiI/AAAAAAAAABw/AwwtT_A9Oa0/s1600/BIATRENDUONGBIENGIOI+2007.jpg"&gt;&lt;img style="margin: 0pt 0pt 10px 10px; float: right; cursor: pointer; width: 242px; height: 320px;" src="http://3.bp.blogspot.com/_a9tmOxlA1Y8/TD2lImgFjiI/AAAAAAAAABw/AwwtT_A9Oa0/s320/BIATRENDUONGBIENGIOI+2007.jpg" alt="" id="BLOGGER_PHOTO_ID_5493728687654538786" border="0" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;meta equiv="Content-Type" content="text/html; charset=utf-8"&gt;&lt;meta name="ProgId" content="Word.Document"&gt;&lt;meta name="Generator" content="Microsoft Word 11"&gt;&lt;meta name="Originator" content="Microsoft Word 11"&gt;&lt;link rel="File-List" href="file:///C:%5CDOCUME%7E1%5CADMINI%7E1%5CLOCALS%7E1%5CTemp%5Cmsohtml1%5C01%5Cclip_filelist.xml"&gt;&lt;o:smarttagtype namespaceuri="urn:schemas-microsoft-com:office:smarttags" name="City"&gt;&lt;/o:smarttagtype&gt;&lt;o:smarttagtype namespaceuri="urn:schemas-microsoft-com:office:smarttags" name="place"&gt;&lt;/o:smarttagtype&gt;&lt;o:smarttagtype namespaceuri="urn:schemas-microsoft-com:office:smarttags" name="country-region"&gt;&lt;/o:smarttagtype&gt;&lt;o:smarttagtype namespaceuri="urn:schemas-microsoft-com:office:smarttags" name="State"&gt;&lt;/o:smarttagtype&gt;&lt;!--[if gte mso 9]&gt;&lt;xml&gt;  &lt;w:worddocument&gt;   &lt;w:view&gt;Normal&lt;/w:View&gt;   &lt;w:zoom&gt;0&lt;/w:Zoom&gt;   &lt;w:punctuationkerning/&gt;   &lt;w:validateagainstschemas/&gt;   &lt;w:saveifxmlinvalid&gt;false&lt;/w:SaveIfXMLInvalid&gt;   &lt;w:ignoremixedcontent&gt;false&lt;/w:IgnoreMixedContent&gt;   &lt;w:alwaysshowplaceholdertext&gt;false&lt;/w:AlwaysShowPlaceholderText&gt;   &lt;w:compatibility&gt;    &lt;w:breakwrappedtables/&gt;    &lt;w:snaptogridincell/&gt;    &lt;w:wraptextwithpunct/&gt;    &lt;w:useasianbreakrules/&gt;    &lt;w:dontgrowautofit/&gt;   &lt;/w:Compatibility&gt;   &lt;w:browserlevel&gt;MicrosoftInternetExplorer4&lt;/w:BrowserLevel&gt;  &lt;/w:WordDocument&gt; &lt;/xml&gt;&lt;![endif]--&gt;&lt;!--[if gte mso 9]&gt;&lt;xml&gt;  &lt;w:latentstyles deflockedstate="false" latentstylecount="156"&gt;  &lt;/w:LatentStyles&gt; &lt;/xml&gt;&lt;![endif]--&gt;&lt;!--[if !mso]&gt;&lt;object classid="clsid:38481807-CA0E-42D2-BF39-B33AF135CC4D" id="ieooui"&gt;&lt;/object&gt; &lt;style&gt; st1\:*{behavior:url(#ieooui) } &lt;/style&gt; &lt;![endif]--&gt;&lt;style&gt; &lt;!--  /* Style Definitions */  p.MsoNormal, li.MsoNormal, div.MsoNormal 	{mso-style-parent:""; 	margin:0in; 	margin-bottom:.0001pt; 	mso-pagination:widow-orphan; 	font-size:12.0pt; 	font-family:"Times New Roman"; 	mso-fareast-font-family:"Times New Roman";} @page Section1 	{size:8.5in 11.0in; 	margin:1.0in 1.25in 1.0in 1.25in; 	mso-header-margin:.5in; 	mso-footer-margin:.5in; 	mso-paper-source:0;} div.Section1 	{page:Section1;} --&gt; &lt;/style&gt;&lt;!--[if gte mso 10]&gt; &lt;style&gt;  /* Style Definitions */  table.MsoNormalTable 	{mso-style-name:"Table Normal"; 	mso-tstyle-rowband-size:0; 	mso-tstyle-colband-size:0; 	mso-style-noshow:yes; 	mso-style-parent:""; 	mso-padding-alt:0in 5.4pt 0in 5.4pt; 	mso-para-margin:0in; 	mso-para-margin-bottom:.0001pt; 	mso-pagination:widow-orphan; 	font-size:10.0pt; 	font-family:"Times New Roman"; 	mso-ansi-language:#0400; 	mso-fareast-language:#0400; 	mso-bidi-language:#0400;} &lt;/style&gt; &lt;![endif]--&gt;  &lt;p style="text-align: justify;" class="MsoNormal"&gt;&lt;b style=""&gt;&lt;span style="font-size:22;"&gt;Đọc Sách Trên Đường Biên Giới &lt;o:p&gt;&lt;/o:p&gt;&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt;  &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;" class="MsoNormal"&gt;&lt;b style=""&gt;&lt;span style="font-size:22;"&gt;của Vũ Uyên Giang&lt;o:p&gt;&lt;/o:p&gt;&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt;  &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;" class="MsoNormal"&gt;&lt;b style=""&gt;&lt;span style="font-size:14;"&gt;Đông Anh&lt;o:p&gt;&lt;/o:p&gt;&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt;  &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;" class="MsoNormal"&gt;&lt;b style=""&gt;&lt;span style="font-size:16;"&gt;&lt;o:p&gt; &lt;/o:p&gt;&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt;  &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;" class="MsoNormal"&gt;Trong một buổi trưa giữa mùa thu, anh Phan Bá Thùy Dương cùng đi với anh Vũ Uyên Giang đến thăm Cơ Sở Lạc Việt tại &lt;st1:place st="on"&gt;&lt;st1:city st="on"&gt;San Jose&lt;/st1:city&gt;&lt;/st1:place&gt;. Nhân dịp này anh Vũ Uyên Giang đã ký tặng cho cá nhân tôi cuốn sách của anh do nhà xuất bản Đất Sống mới tái bản năm 2007. Cuốn Trên Đường Biên Giới mà anh gọi là Tập truyện. Sở dĩ gọi là tập truyện vì sách gồm 12 truyện kể. Phần đông truyện kể đều viết về tình bằng hữu với những kỷ niệm xưa lúc còn huy hoàng hay khi đã long đong trong lao cải.&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt;  &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;" class="MsoNormal"&gt;Phần 13 là Những Bài Thơ Rời phần nhiều là xướng họa về những chuyện cũ hoặc mới sảy ra bên ly rượu trong tiêm ăn do anh làm chủ ở &lt;st1:place st="on"&gt;&lt;st1:city st="on"&gt;San Leandro&lt;/st1:city&gt;&lt;/st1:place&gt;.&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt;  &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;" class="MsoNormal"&gt;Vũ Uyên Giang là Sĩ Quan QLVNCH phục vụ trong ngành quân báo. Trước đó anh là ký giả viết cho một số báo nổi danh tại Sài Gòn. Mất nước anh cũng đi tù rồi cũng vượt biên tìm tự do. Khi vượt biên đến Thái Lan, vốn là nhân viên tòa đại sứ Mỹ tại Sài Gòn trước năm 1975 nên anh được thâu nhận vào làm việc cho tòa đại sứ Mỹ tại đây, đảm trách công việc phỏng vấn tù binh Cộng Sản Việt Nam bị bắt ở Kampuchia. Duyên số như vậy nên anh mới có cơ hội gập gỡ Lý Tống, gặp gỡ một số quân nhân QLVNCH trong các trại tỵ nạn Thái Lan, những người đang khao khát mong ngày giải phóng quê hương.&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt;  &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;" class="MsoNormal"&gt;Truyện chính trong tập truyện này là Trên Đường Biên Giới, tựa đề của sách. Trong lời mở đầu anh đã viết như sau: &lt;i style=""&gt;“Đây là một câu chuyện có thật xảy ra vào thời gian năm 1982 tại vùng biên giới Thái-Miên, Aranya Prathet. Tác giả sống ở vùng này một thời gian ngắn và đã trực tiếp chứng kiến nên ghi lại trong truyện như những giòng hồi tưởng một quãng đời đã qua, để nhớ những người bạn đã gặp trên bước đường lưu lạc. Tên các nhân vật trong truyện đều là những người có thật mà tác giả có dịp được găp.”&lt;o:p&gt;&lt;/o:p&gt;&lt;/i&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt;  &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;" class="MsoNormal"&gt;Chuyện có thật là những chuyện gập gỡ và phỏng vấn các sĩ quan hoặc nhân viên thuộc VNCH ngày trước, chuyện đi tìm và giải cứu Lý Tống, chuyện những cán binh Việt Cộng bị bắt ở Kampuchia, chuyện người Mỹ trong tòa đại sứ tại Thái v. v...&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt;  &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;" class="MsoNormal"&gt;Nhân vật có thật là những người làm việc cùng lãnh vực như Thạch Thom, như Larry, như Nguyễn Văn Minh một người Mỹ tên Việt, nói tiếng Việt rành rẽ, những người trong trại tỵ nạn, những bộ đội cộng sản Việt Nam như Bùi Văn Tranh. Nhờ có Bùi Văn Tranh mà sự liên lạc giữa Lý Tống ở trong tù và tác giả thêm mật thiết. Như đại tá Tong Den đơn vị 506, người rất ghét Lý Tống. Đặc biệt là chuyện kể về Lý Tống với những chi tiết khá thú vị. Những bức thư và những bài thơ trao đổi giữa Lý Tống với Vũ Uyên Giang. Truyện Trên Đường Biên Giới được kết thúc bằng lá thư của Lý Tống sau khi vượt thoát trại giam Thái Lan trên đường tìm tự do. Bức thư đề ngày 14 thâng năm 1983 tại Galang.&lt;span style=""&gt;  &lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt;  &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;" class="MsoNormal"&gt;Mười một truyện khác ghi lại những kỷ niệm với bạn bè như Một Thoáng Kỷ Niệm viết về Dương Hùng Cường trong trại cải tạo. Truyện Món Quà Cuối Năm là chai rượu bách nhật do mẹ gửi vào tù được ngụy trang dưới hình thức chai nước mắm. Nhờ có chai rượu nếp than bách nhật mà bữa tiệc cuối năm trong trại Suối Máu ghi sâu trong tâm khảm của tác giả và của các bạn tù. &lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt;  &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;" class="MsoNormal"&gt;Truyện thứ tư viết cho kỷ niệm với nhà thơ điên Bùi Giáng bên ly cà phê đen đậm. Nhà thơ nhất định không nhận tên mình là Bùi Giáng mà lấy tên Bàng Giúi, trả tiền cà phê bằng những tờ giấy báo. Ai bảo rằng nhà thơ điên! Điên trong chế độ mới!&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt;  &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;" class="MsoNormal"&gt;Truyện thứ 5 Thương Tiếc viết về Đại úy Nguyễn Thanh Thu, người sáng tác và dựng nên bức tượng nổi danh trên nghĩa trang quân đội Biên Hòa. Tượng Thương Tiếc. Sau khi giật đổ tượng, kẻ chiến thắng dồn mọi thù vơ oán chạ lên đầu người tạc tượng. Hành cho đến chết, không chết, đổi đi trại khác tiếp tục hành cho đến khi nào ngã gục mới thôi!&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt;  &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;" class="MsoNormal"&gt;Truyện kế tiếp nói lên tình huynh đệ chi binh. Người đi trước bao bọc kẻ đến sau. Người bên Mỹ cưu mang người ở đảo để đem nhau về sống cùng một thành phố có khi cùng sống một nhà, đối xử với nhau chẳng khác chi nhân tình;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt;  &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;" class="MsoNormal"&gt;Huynh đệ chi binh là gì đó anh hai?&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt;  &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;" class="MsoNormal"&gt;Huynh đệ chi binh là tình cùng chung đời lính...&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt;  &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;" class="MsoNormal"&gt;thương nhau khác chi nhân tình...&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt;  &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;" class="MsoNormal"&gt;Người lưu vong khắc khoải nhớ nhà. Nhớ sông Tiền, sông Hậu. Nhớ ao cá vườn rau. Mơ ước một mùa xuân ngay trên quê hương mình.&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt;  &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;" class="MsoNormal"&gt;Truyện về Nguyễn Bính cùng những kỷ niệm thời còn nhỏ với những vần thơ êm đềm lãng mạn...&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt;  &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;" class="MsoNormal"&gt;Truyện Lạc Vào Cõi Chết rất lạ. Tả một anh chàng say rồi ngất sỉu phải đưa vào nhà thương, từ đó anh như mộng du, hồn lang thang khắp đó đây. Hồn đến thăm người tình và chợt nhớ lại từ tiềm thức những lời nỉ non dặn dò: &lt;i style=""&gt;“Sao anh thương em nhiều quá vậy? Có thật là anh thương em còn hơn thương cả chính thân anh không? Sao anh dại quá vậy? Sao anh không nói gì với em vậy? Anh hứa chờ em 30 năm mà sao anh đòi chết? Đừng chết nghe anh!...”&lt;o:p&gt;&lt;/o:p&gt;&lt;/i&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt;  &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;" class="MsoNormal"&gt;Thế là chàng nhập lại vào xác mình, ngồi dậy dưới con mắt ngơ ngác của bác sĩ và y tá.&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt;  &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;" class="MsoNormal"&gt;Truyện nặng phần triết lý. Triết lý về con người, về tình yêu, về cuộc sống...&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt;  &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;" class="MsoNormal"&gt;Truyện thứ 9 nói về một cuộc nhập ngũ Hải Quân bất thành vì thiếu cân lượng. Thôi không làm kình ngư lướt sóng thì ta đành đi bộ vậy thôi. Tác giả nhập ngũ và học tại Trường Bộ Binh Thủ Đức, ra trường với cấp bậc Chuẩn úy. Đi bộ binh, ngành Quân báo.&lt;span style=""&gt;  &lt;/span&gt;Sau cuộc đổi đời Tháng Tư năm 75 thì Hải Quân hay Lục Quân cũng về một mối trong trại tập trung để nghe như nghìn tấn đá ở trong lòng!&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt;  &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;" class="MsoNormal"&gt;Truyện Đợi Chờ hình như rất hiếm xảy ra trên cõi đời này, hay lại là rất thường xuyên sau cuộc đổi đời 1975. Người chồng bị vợ đưa vào mê hồn trận. Bạn trai của vợ nhảy với nàng nhiều nhất trong ngày cưới. Bạn trai đóng vai anh họ đến thăm nơi hai vợ chồng cư ngụ và họ cùng nhau cuốn gói ra đi. Người chồng vẫn ở căn nhà cũ, vẫn giữ hình ảnh kỷ niệm xưa và có một điều rất lạ là chàng vẫn mong nàng trở lại.&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt;  &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;" class="MsoNormal"&gt;Truyện kế tiếp là Món Quà Xuân Vô Giá cũng kể chuyện về tình huynh đệ chi binh. Người chiến hữu nhớ cấp trên trong những buổi sáng mùa đông, trong những độ xuân về trên dất khách để ôn lại chuyện xưa. Ngồi đây mà nhớ: &lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt;  &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;" class="MsoNormal"&gt;“Vang súng đạn thù trên trận tuyến. &lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt;  &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;" class="MsoNormal"&gt;Sa trường binh lửa nặng oằn vai.” &lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt;  &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;" class="MsoNormal"&gt;để tiếc buổi huy hoàng. Tiết tháng Chạp đến ông Tiểu đoàn trưởng ngày xưa đang ngồi bó gối nhìn trời lạnh lẽo ở quê người thì món quà xuân đưa đến. Mở ra là tấm huy chương Đệ Tứ Đẳng Bảo Quốc Huân Chương của QĐVNCH. Cả quá khứ hiện về. Mắt ông Trung tá Tiểu đoàn trưởng mờ lệ!&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt;  &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;" class="MsoNormal"&gt;Truyện cuối cùng là Một Buổi Sáng Tháng Chín tả về những nỗi kinh hoàng của những người trên đường phố &lt;st1:city st="on"&gt;Orlando&lt;/st1:city&gt;, &lt;st1:state st="on"&gt;Florida&lt;/st1:state&gt; khi nhìn hình ảnh hai tòa nhà tháp đôi ở &lt;st1:state st="on"&gt;&lt;st1:place st="on"&gt;New   York&lt;/st1:place&gt;&lt;/st1:state&gt; bị sụp đổ tan tành. Những suy tư về cuộc sống, về sự phồn thịnh chuyển sang những ý nghĩ về khũng bố, về tang hoang. Một tháng Chín buồn.&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt;  &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;" class="MsoNormal"&gt;Phần sau cùng là những bài thơ rời ghi lại những đoạn đường in dấu bước chân đi. Từ Tây Ninh, Hậu Nghĩa rồi đến những bước chân sa vào chốn tù đầy. Từ Hóc Môn ra Tân Cảng, lên tàu xuôi &lt;st1:country-region st="on"&gt;&lt;st1:place st="on"&gt;Nam&lt;/st1:place&gt;&lt;/st1:country-region&gt; ra Phú Quốc. Từ Long Giao về Suối Máu v.v...&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt;  &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;" class="MsoNormal"&gt;Lại có những bài thơ về thăm cảnh cũ người xưa. Vài ba bạn hữu họp nhau uống rượu làm thơ tại &lt;st1:city st="on"&gt;San  Leandro&lt;/st1:city&gt;, Bắc &lt;st1:state st="on"&gt;&lt;st1:place st="on"&gt;California&lt;/st1:place&gt;&lt;/st1:state&gt; là cơ sở kinh doanh của Vũ Uyên Giang. Các bài thơ đều có bài họa của thi sĩ Hà Thượng Nhân. Bài xướng cùng bài họa thật bồi hồi xúc động.&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt;  &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;" class="MsoNormal"&gt;Thơ Văn là người. Người viết thơ văn đem cả nỗi lòng mình đặt vào với văn chương, đôi khi đem cả cuộc đời mình trao trong đó. Vũ Uyên Giang, dù viết một đoạn đường đi ngắn những vẫn đầy đủ cả cuộc đời. Anh nặng tình với anh em. Huynh đệ chi binh được đề cao tuyệt đối. Anh cũng có lòng nhân ái với mọi người do vậy hơi cả tin nên đoạn đường đi thêm gập ghềnh khúc khuỷu. Nhưng có gian truân mới biết tay tài trí, có nguy khốn mới biết kẻ anh hùng.&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt;  &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;" class="MsoNormal"&gt;Cuốn sách Trên Đường Biên Giới cũng không phải là cuốn đầu tiên của Vũ Uyên Giang. Cuốn đầu tiên là tập truyện Trên Đỉnh Tình Buồn xuất bản năm 1971. Mới đây anh viết chung với nhà văn Hồ &lt;st1:place st="on"&gt;&lt;st1:country-region st="on"&gt;Nam&lt;/st1:country-region&gt;&lt;/st1:place&gt; cuốn 100 Khuôn Mặt Văn Nghệ Sĩ tập 1.&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt;  &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;" class="MsoNormal"&gt;Tôi không phải là người phê bình sách, Tôi chỉ là người đọc sách, tôi yêu cách viết truyện của anh, thấy sách hay thì giới thiệu đôi hàng cho mọi người cùng đọc. Bạn đọc cũng có thể tìm thấy những đoạn đường, những kỷ niệm cùng với tác giả, ấy là điều quý hóa vô cùng.&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt;  &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;" class="MsoNormal"&gt;&lt;b style=""&gt;&lt;span style="font-size:16;"&gt;&lt;o:p&gt; &lt;/o:p&gt;&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;/p&gt;&lt;div style="text-align: justify;"&gt;  &lt;/div&gt;&lt;p style="text-align: justify;" class="MsoNormal"&gt;&lt;b style=""&gt;&lt;span style="font-size:14;"&gt;Đông Anh&lt;o:p&gt;&lt;/o:p&gt;&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;&lt;/p&gt;  &lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/9009333266934427487-363012271717482528?l=trenduongbiengioi.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://trenduongbiengioi.blogspot.com/feeds/363012271717482528/comments/default' title='Post Comments'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://trenduongbiengioi.blogspot.com/2010/07/normal-0-false-false-false.html#comment-form' title='0 Comments'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/9009333266934427487/posts/default/363012271717482528'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/9009333266934427487/posts/default/363012271717482528'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://trenduongbiengioi.blogspot.com/2010/07/normal-0-false-false-false.html' title=''/><author><name>Vũ Uyên Giang</name><uri>http://www.blogger.com/profile/14317469376846546930</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='27' height='32' src='http://4.bp.blogspot.com/_a9tmOxlA1Y8/SurV9bfSPWI/AAAAAAAAAAU/3GQa-eia6Kw/S220/vinh1.jpg'/></author><media:thumbnail xmlns:media='http://search.yahoo.com/mrss/' url='http://3.bp.blogspot.com/_a9tmOxlA1Y8/TD2lImgFjiI/AAAAAAAAABw/AwwtT_A9Oa0/s72-c/BIATRENDUONGBIENGIOI+2007.jpg' height='72' width='72'/><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-9009333266934427487.post-8370402711460778091</id><published>2009-10-30T12:26:00.000-07:00</published><updated>2009-10-30T12:29:10.340-07:00</updated><title type='text'></title><content type='html'>&lt;div align="justify"&gt;&lt;span style="font-size:130%;color:#000066;"&gt;&lt;strong&gt;MÓN QUÀ XUÂN VÔ GIÁ&lt;/strong&gt;&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ông Phát ngôi thầm thũi trong bóng tối mờ nhạt của căn phòng có cái cửa sổ nhìn thẳng xuống con đường mà ông thường gọi nôm na là đường Ngàn Ốc (Thousand Oak Road), thuộc thành phố Hoàng Thành (Kingwallville). Ánh  vàng vọt của ngọn đèn đường hắt vào căn phòng khiến cho mặt ông sáng một mảng trên má như người bị bệnh bạch tạng. Gia đình ông dọn về căn apartment nằm giữa khu phố bình dân của người Mỹ nghèo này được gần 1 năm nay, sau khi đến định cư ở Hoa Kỳ theo diện HO, do một Hội Nhà thờ bảo trợ thuê cho. Căn apartment 3 phòng ngủ nằm trên lầu của một tiệm hớt tóc của người Việt làm chủ nên ông cũng đỡ cảm thấy bơ vơ nơi xứ lạ.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Vợ chồng chú Toàn, chủ tiệm hớt tóc là người tốt bụng, nên đã hết lòng chỉ dẫn giúp đỡ vợ chồng ông trong khi còn bỡ ngỡ. Chú Toàn là lính hải quân đã cùng đoàn tàu rời đất nước ngay trong ngày đen tối khi miền Nam rơi vào tay giặc cộng. Sang đến Trại tị nạn ở đảo Guam, chú được một gia đình một người Mục sư da đen bảo trợ về Tiểu bang New York sinh sống. Ông bà mục sư đã giúp cho vợ chồng Toàn một công việc khá nặng nhọc trong một xưởng sắt. Được vài năm sau, nhờ một người bạn hướng dẫn, Toàn đã đi học nghề hớt tóc và mở tiệm trong khu Mỹ đen nghèo này để sinh nhai nên cuộc sống khá ổn định. Căn nhà 2 tầng đã cũ có lẽ cũng trên 50 năm tuổi thọ; lúc đầu do nhà thờ Tin lành mua để cho vợ chồng chú ở tạm; sau khi đã ổn định đời sống, Toàn đã mua lại căn nhà với gía rẻ, tầng trệt anh sửa lại để mở tiệm hớt tóc ở phía trước, còn vợ chồng anh ở ngay phía sau. Nhân khi có gia đình ông Phát cũng được ông mục sư bảo trợ đến, nhà Phát đang bỏ trống một tầng lầu nên mục sư đã thuê lại cho gia đình ông Phát tạm trú. Lâu nay bận rộn với công việc làm ăn; hơn nữa thành phố Kingwallville lại là một town nhỏ cách xa nơi thị tứ nên chẳng có mấy người Việt cư ngụ; vợ chồng Toàn cũng ít có dịp gặp gỡ người đồng hương. Có gia đình ông Phát đến ở, vợ chồng Toàn rất mừng, nhất là biết ông là Trung tá Trung đoàn trưởng một Trung đoàn Bộ binh ở miền Trung, sau ngày 30/4/75 bị kẹt lại trong nước vì những lệnh lạc quái gở của người lãnh đạo, khi thì bảo rút quân; khi lại ra lệnh cố thủ khiến binh sĩ dưới quyền không biết phải thi hành ra sao. Ông Phát quyết định ở lại với binh sĩ thuộc quyền cho đến giờ phút cuối dù ông có rất nhiều cơ hội để trốn chạy trước, nhưng ông không nỡ bỏ rơi những thuộc cấp của mình. Ông bị giặc cộng bắt cho vào nhà giam tổng cộng trên 14 năm mới được thả.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Gia đình ông Phát có hai vợ chồng và hai người con: Thu, con gái lớn đã 30 tuổi còn sống độc thân và  Phong con trai út 28 tuổi; cả hai đều đã được hội bảo trợ kiếm sở cho làm nên ban ngày căn nhà chỉ còn lại hai ông bà già. Ông Phát đã trên 65 tuổi, sức khoẻ yếu kém do nhiều năm dài bị đày ải trong các nhà giam của cộng sản. Ông phải chịu đựng bao nỗi đau đớn nhục nhằn của kiếp bại binh, bị trăn trở dằn vặt vì trách nhiệm thất phu không tròn giữ nước, bảo vệ những người dân miền Nam, và thuộc cấp. Bà Phát cũng chẳng khá gì hơn vì sau ngày miền Nam bị cộng sản cưỡng chiếm, bà đã tần tảo nuôi con thơ, và dành dụm thăm nuôi chồng nhiều khi tưởng đã ngã qụy, nhưng cứ nghĩ đến chồng đến con bà cắn răng chịu đựng những sự chèn ép của những tên cán bộ cộng sản trong Phường, trong xóm.&lt;br /&gt;Tuy mới sang, nhưng ông cũng đã gặp gỡ một số bạn bè cũ trong quân ngũ sang đây từ trước và cũng được nghe, được biết về tình hình phân hoá của hàng ngũ cựu quân nhân ở hải ngoại. Những người đàng hoàng đứng đắn thì chỉ nén tiếng thở dài nhìn những tan hoang của tập thể quân nhân hải ngoại. Nhiều kẻ nhi nhô tranh đoạt những hư danh, tranh chấp nhau từng lời ăn tiếng nói, ghen tị với nhau từ nhà ở, xe cộ... Có một số kẻ hèn hạ ti tiểu cấu kết với nhau thành phe nhóm đã không từ những thủ đoạn đê tiện tung thư rơi, thư rớt, thư nặc danh cố bôi nhọ, chụp mũ cho chiến hữu xưa của mình  tánh cương trực, thẳng thắng là cộng sản, đẩy họ vào phiá đối phương để trở thành kẻ thù của những người tị nạn CS...; mà những người tị nạn vốn dị ứng với bọn vô thần nên dễ tin theo những kẻ chụp mũ, rồi cứ thế loan truyền bừa bãi, không cần phối kiểm... Càng nghĩ, ông càng buồn, càng chua xót  cho cảnh đời lố lăng. Có cấp lãnh đạo đất nước múa rối, bốc đồng đã tuyên bố lăng nhăng chối bỏ hàng ngũ quốc gia và ngây thơ lăm le chuyện cộng tác với cộng sản. Họ đã quên một điều là cộng sản luôn luôn xảo quyệt, trí trá ngay bọn chúng với nhau còn chưa tin nhau thì làm sao chúng tin được đối phương của chúng? Dù được sang đất nước này nhưng ông vẫn căm hận người bạn Mỹ đã đâm sau lưng người Việt bằng cách đẩy cả một dân tộc vào trong vòng khổ đau ly tán. Cái danh hiệu tiền đồ chống cộng của thế giới tự do, người bạn đồng minh chẳng qua chỉ là những danh từ hoa mỹ lừa mị người lính Mỹ và người lính VNCH. Tất cả chỉ vì quyền lợi của nước họ mà họ sẵn sàng bán đứng người bạn đồng minh nhược tiểu bằng mọi thủ đoạn đê tiện nhất. Ông cũng thương những người chiến sĩ Mỹ đã đổ máu xương, sát cánh cùng ông trong những trận chiến lừng lẫy từ A Shao, A Lưới, Khe Sanh, Đông Hà..., họ cũng bị chính quyền của họ ở Hoa Thịnh Đốn lừa gạt máu xương ôm mối hận thất trận nhục nhã và bị dân chúng khinh ghét ruồng rẫy.&lt;br /&gt;Sau ngày Miền Nam bị cộng sản cưỡng chiếm với sự ngoảnh mặt của người bạn đồng minh Hoa kỳ, một sự bội phản nhục nhã của một cường quốc đối với một nước đồng minh do chính Tổng thống Nixon đã cam kết, mà sau này ông đã thú nhận với báo chí rằng “khuyết điểm lớn nhất của Hòa ước Paris là cuộc ngưng bắn cho quân đôi Bắc Việt được ở lại những vùng họ chiếm giữ tại Nam Việt Nam.” Trong quyển sách “NO PEACE, NO HONOR: KISSINGER, NIXON AND BETRAYAL IN VIET NAM” (Không Hòa Bình, Chẳng Danh Dự: Nixon, Kissinger và Sự Phản Bội Ở Việt Nam) của tác giả Larry Berman, Giáo sư Chính trị Học kiêm Giám đốc Trung Tâm Nghiên Cứu Hoa Thịnh Đốn của Trường Đại Học California đã dựa vào các tài liệu mới được bạch hóa để trình bày tỉ mỉ diễn tiến những mật đàm giữa Kissinger và Lê Đức Thọ tại Paris, những cam kết của TT.Nixon với TT.Nguyễn Văn Thiệu là: “sẽ trả đũa mạnh mẽ nếu Bắc Việt vi phạm Hiệp định”, những lời hăm dọa của Kissinger với ông Thiệu: “TT.Thiệu không nên làm thánh tử đạo...”, hoặc lời hăm dọa của tướng Alexander Haig khi TT.Thiệu không chịu ký vào Hiệp định bất lợi cho VNCH: “...nếu không ký thì chúng tôi sẽ có biện pháp tàn bạo...” v.v... và v.v... để áp lực TT.Thiệu phải ký vào bản Hiệp định Paris. Ông Larry Berman cũng cho rằng khi Nixon loan báo đạt được thỏa hiệp hòa bình cho Miền Nam để rút quân Mỹ về và nhận số tù binh Mỹ bị cộng sản Bắc Việt giam cầm là “đã đạt được hòa bình trong danh dự...”; ông Nixon và ông Kissinger đã lừa bịp dân chúng Mỹ; vì hai ông thừa biết Bắc Việt sẽ khởi động cuộc chiến trở lại với sự viện trợ dồi dào của cả khối cộng sản cho đến khi chiếm được Miền Nam. Quả thật, chỉ thời gian ngắn sau đó cả Miền Nam đã bị cộng sản nhuộm đỏ...&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Thiếu tá Clark, người sĩ quan cố vấn Mỹ của ông thời ông còn giữ chức Tiểu đoàn trưởng, thỉnh thoảng vẫn điện thoại thăm hỏi và than thở với ông về nỗi đau của người quân nhân Mỹ thất trận, bị cả nước quên lãng, khinh rẻ. Thế mới biết từ xưa đến nay, kẻ thắng luôn có cơ hội phét lác, huênh hoang; còn người bại binh ôm mối nhục nhằn đau đớn. Nỗi buồn như phiến đá tảng đè nặng trong tâm khiến ông trầm tư  ít nói, chỉ ngồi thờ thẫn nhìn vào khoảng hư không như một kẻ mất hồn. Ông nghĩ đến những ngày chinh chiến cũ, đến bạn bè đồng đội, đến bao người đã ngã xuống trong những trận chiến long trời lở đất đem máu xương quyết bảo vệ từng tấc đất của miền Nam thân yêu trước nanh vuốt bạo tàn của cộng sản. Tất cả những hy sinh ấy trở thành vô nghĩa khi chính quyền Mỹ tháo chạy nhục nhã vào những ngày cuối Tháng Tư, trở thành phí phạm một cách không đáng. Thân phận nhược tiểu bị lệ thuộc vào nước đại cường và bị xử dụng như những con chốt thí khi cuộc cờ tàn, khi họ đã đạt được những thoả hiệp cho quyền lợi của họ, chỉ còn những tan nát, khổ đau của quân dân nhược tiểu. Sự bội phản đê hèn được che đậy bằng những lời buộc tội trâng tráo, gỉa trá hèn mạt của kẻ bội phản cốt để đổ tội cho người lính cộng hoà. Ông nghĩ, hơn hai mươi năm chiến đấu gian khổ giữ gìn miền Nam, người lính VNCH đã là những anh hùng dũng cảm tuyệt vời; đã chiến đấu một cách kiên cường, gian khổ mà trong lịch sử chiến tranh chưa một đội quân nào chịu đựng nổi. Cuộc chiến ấy, quân đội ấy với những thiếu thốn đến độ không tưởng đã giữ vững từng tấc đất của quê hương, người lính cộng hoà đã không tiếc máu xương để ngăn chặn giặc thù phương bắc tay sai của chủ nghĩa ngoại lai vong bản. Họ đã không một lời than trách, không một oán hờn, không một đòi hỏi. Họ cam chịu những thiệt thòi chỉ vững một điều chiến đấu gìn giữ quê hương, bảo vệ sự tự do cho người dân. Và cuối cùng họ đã bị đâm sau lưng bằng một nhát chí tử bởi sự bội phản đớn hèn của bạn đồng minh.&lt;br /&gt;Ông Phát gục đầu xuống bàn, những ngón tay gầy guộc ôm lấy trán. Ông chợt nhớ mấy câu thơ Tiến đã gửi cho ông mà ông rất thích thú vì nó hợp với tâm trạng của những người lính trong thời tao loạn như ông khi tàn cuộc:&lt;br /&gt;&lt;em&gt;&lt;br /&gt;“...Vang súng đạn thù trên trận tuyến.&lt;br /&gt;Sa trường binh lửa nặng oằn vai&lt;br /&gt;Thất phu sinh giữa thời chinh chiến.&lt;br /&gt;Trách nhiệm không tròn, tủi kiếp trai.”&lt;br /&gt;&lt;/em&gt;(Thơ VUG)&lt;br /&gt;Người ông sũng buồn. Hai giọt nước mắt lăn dài trên gò má nhăn nheo...&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tiến ngồi trong chiếc bàn ở góc tiệm Pizzar do anh làm chủ. Từ ngày sang Mỹ định cư, sau những ngày làm lụng vất vả, anh đã dành dụm mở nhà hàng nho nhỏ trong một thành phố mang tên Hoàng Hậu (Queen City) ở đông nam Hoa kỳ được vài năm. Công việc cai quản nhà hàng cũng tương đối nhàn nhã vì có nhân viên phục vụ đầy đủ. Hàng ngày, anh chỉ đến mở cửa, trông coi sổ sách rồi ngồi uống trà trò chuyện với bạn bè. Từ một quân nhân, sau nhiều năm tù đầy trong lao tù cộng sản, anh vượt ngục và vượt biển bằng một chiếc thuyền con loại đi sông, với những trang bị thô sơ để đến được bến bờ tự do tới nay cũng đã gần 20 năm trở thành chủ nhân một cơ sở thương mại, một lãnh vực hoàn toàn  trái ngược với khả năng chuyên môn của anh. Sau khi sang Mỹ, anh đã ghi danh đi học trở lại ở một Trường Đại học cộng đồng (Community college) ở Thành phố Gió (Windy City) về ngành điện tử. Tốt nghiệp, anh vào làm cho một hãng điện tử hạng trung gần nhà được vài năm, sau đó đã từ chức để về kinh doanh trong ngành nhà hàng ăn. Công việc tuy dài giờ nhưng cũng đủ sống. Anh là một người có lòng với bạn bè, bằng hữu nên dù sống trên phần đất tạm dung, anh vẫn nghĩ đến những người bạn đã một thời chung lưng đấu cật chiến đấu chống cộng gìn giữ quê nhà, nên bằng mọi cách, anh tìm kiếm, liên lạc với những người bạn mới sang theo diện HO. Biết người nào ở bất cứ thành phố nào, tiểu bang nào trên nước Mỹ anh cũng gọi điện thoại thăm hỏi, trò chuyện và nhắc lại những kỷ niệm thời quân ngũ... Những người còn kẹt ở Việt Nam thì anh gửi chút qùa và nhắn với người bạn thụ nhận đi tìm những bạn bè khác, thuộc cấp cũ gặp gỡ nhau nhậu một bữa cho vui vì anh không muốn về Việt Nam dù những hình ảnh quê hương vẫn tràn ngập tâm hồn, nhưng không muốn nhìn thấy bóng dáng những tên Việt cộng nên anh không về; dù hằng đêm vẫn trăn trở với những kỷ niệm thuở thiếu thời; dù những góc phố cũ, hàng quán xưa; những con hẻn lầy lội sau mỗi cơn mưa, những mái nhà tôn nằm chen chúc trong những con hẻm nhỏ hẹp ngoằn nghèo, những gốc cây, những hè phố… vẫn xôn xao trong anh như những hình ảnh khó phai mờ. Anh tìm tòi những vật kỷ niệm của quân đội và cất giữ như những bảo vật trân qúy, từ những miếng huy hiệu các quân binh chủng QLVNCH, hoặc những tấm huy chương, những hình ảnh chiến đấu hào hùng của quân đội... Tất cả những thứ đó đối với anh như thân quen, như gần gũi khiến anh cảm thấy sống lại những những kỷ niệm với bạn bè chiến hữu ngày xưa. Anh thường gọi điện thoại an ủi ông Phát, cấp chỉ huy cũ khi biết ông đã được sang định cư ở Hoa Kỳ sau 14 năm tù đầy trong lao tù cộng sản. Anh cũng gửi sách báo sang cho ông đọc khi thấy ông than thở ở chỗ của ông ít người Việt nên không có gì để xem, mà truyền hình thì không hiểu hết những gì họ nói. &lt;br /&gt;Tiến nhìn ra ngoài cửa sổ, những cành cây khẳng khiu trơ trụi lá đang run rẩy ngả nghiêng trước gió. Thời gian ở cái xứ này dường như trôi nhanh hơn khi ở quê nhà; thắm thoát mà đã đầu tháng giêng, chỉ còn hơn hai mươi ngày nữa đã là Tết nguyên đán . Hôm qua ghé ngang tiệm tạp hoá gần nhà, anh thấy họ bầy bán la liệt bánh mứt, trà rượu, hoa quả khiến lòng anh thêm rộn rã nhớ lại những xuân xưa ở quê nhà. Bây giờ tháng ngày trôi đi khiến anh ngậm ngùi nhìn mái tóc bạc thưa dần để chợt biết rằng mình đã gìa, chợt tiếc nuối thời trai trẻ qua mau. Anh khẽ ngâm mấy câu thơ:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;em&gt;“Người lính trẻ nay trở thành lão trượng&lt;br /&gt;Vẫn ngậm ngùi nhớ lại chiến trường xưa”&lt;br /&gt;&lt;/em&gt;&lt;br /&gt;Anh dự định mua một chút quà nhỏ để gửi biếu người chỉ huy cũ Trung tá Lê Phú Phát, nhưng cứ phân vân mãi  chưa biết nên biếu ông món gì. Anh chợt nhớ đến một vật mà anh nghĩ ông sẽ rất thích ... Tiến về nhà lục trong ngăn tủ lấy tấm huy chương Đệ tứ đẳng Bảo Quốc Huân Chương anh mua lại của một cựu quân nhân Hoa Kỳ giữ làm kỷ niệm cho vào chiếc hộp nhỏ dự định sẽ gửi cho ông Phát qua đường bưu điện. Anh phục vụ dưới quyền Ông Phát từ ngày ông còn là Thiếu tá Tiểu đoàn trưởng. Ông là một sĩ quan gương mẫu, thanh liêm, đứng đắn và dũng cảm. Ông xuất thân từ Khoá 5 Trường Võ Khoa Thủ Đức; suốt đời binh nghiệp lăn lộn ở mọi chiến trường sôi động và đã được ân thưởng đủ loại huy chương; trong đó cao nhất là tấm Đệ tứ đẳng Bảo Quốc Huân Chương. Trong đơn vị, Ông  rất thương những thuộc cấp, hết lòng chăm sóc, thăm hỏi và giúp đỡ anh em sĩ quan, binh sĩ dưới quyền. Ông không bao giờ ăn chặn của lính và chẳng nhận quà cáp biếu xén của ai. Ông là tấm gương sáng cho đơn vị mà ai cũng thương mến. Tiến nghĩ ông sẽ rất vui khi nhận được tấm huy chương dù không phải là tấm chính mà ông được chính tay Tổng thống VNCH gắn tại đại lộ Thống Nhất, Sàigòn nhân ngày Quân Lực 19 tháng 6 năm 1973. Tấm huy chương chính đó đã bị mất trong những ngày cuối của Sàigòn tháng 4/1975. Dù sao có được tấm huy chương này cũng sẽ an ủi cho ông rất nhiều trong lúc tuổi xế chiều.&lt;br /&gt;Ngày hôm sau, Tiến mang theo hộp quà lên tiệm dự định sẽ ra nhà bưu điện để gửi cho ông Phát thì gặp Tim Smith, một khách hàng ăn quen thuộc của tiệm anh. Tim cũng là một cựu chiến binh Hoa Kỳ đã từng tham chiến ở Miền Trung trong thời kỳ chiến tranh Việt Nam nên khi biết Tiến cũng là một sĩ quan QLVNCH, Tim rất thích lại trò chuyện. Sau ngày giải ngũ, Tim trở về nước và đã làm việc cho cơ quan điều tra liên bang (FBI) nên thường đi sang các tiểu bang khác công tác. Tiến kể cho Tim nghe về ông Phát nhiều lần, nên hôm nay được anh nói cho biết ý định gửi món quà Xuân biếu ông, Tim hết sức hoan nghênh sáng kiến của anh. Tim cho biết sẽ đi New York vào tuần sau và sẵn sàng mang giao tận tay ông Phát. Tiến đồng ý nhờ Tim mang đến giao tận tay cho ông.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Chiều 23 tháng chạp Âm lịch, ông bà Phát đang chuẩn bị bàn thờ để đưa ông Táo chầu trời như phong tục hằng năm nơi quê nhà. Ông nghĩ dù sống ở xứ người, nhưng vẫn phải giữ đất lề quê thói của người Việt. Ngoài trời tuyết vẫn phủ trắng xoá và từng cơn gió lạnh buốt vẫn xoáy vào chân lông kẽ da khiến lòng người tha hương thêm da diết nhớ nhà. Ông đứng trên chiếc ghế sắt để sắp xếp bàn thờ, còn bà thì đang loay hoay nấu nướng trong bếp. Bỗng có tiếng chuông cửa khiến ông ngạc nhiên không biết ai đến thăm vào giờ này. Ông không có nhiều bạn bè ở Kingwallville vì mới sang chưa được bao lâu; mấy đứa con thì đi làm chưa về... Ông nói vói vào trong bếp:&lt;br /&gt;- Bà ra coi xem ai bấm chuông dùm tôi nghe bà.&lt;br /&gt;Bà Phát lau tay đi ra cửa, ngó trong cái lỗ nhỏ để xem ai trước khi mở cửa thì thấy một người Mỹ nên bà chạy vào bảo ông:&lt;br /&gt;- Người Mỹ ông à! Ông biết nói chút ít tiếng Mỹ thì ra coi họ hỏi cái gì.&lt;br /&gt;Ông Phát phân vân, ông có quen người Mỹ nào ở quanh đây đâu, sao lại có Mỹ đến nhà? Hay là Ông Clark, cố vấn cũ đến thăm? Ông mở cửa bước ra.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tim mặc bộ quân phục đại lễ, đội nón casket, giầy đánh bóng lộn, hai tay bưng một chiếc gối nhỏ trên đó có một cái hộp gói giấy hoa. Anh tự giới thiệu bằng tiếng Việt khá sõi:&lt;br /&gt;- Tôi là Tim Smith, bạn của ông Tiến ở Queen City. Ông Tiến nhờ tôi mang đến cho ông một món quà Xuân.&lt;br /&gt;Ông Phát cảm ơn rồi mời Tim vào trong nhà. Tim chuyển cái gối sang cho ông Phát xong đứng nghiêm chào kính theo lối nhà binh.&lt;br /&gt;- Congratulations! Colonel.&lt;br /&gt;Ông Phát bỡ ngỡ không biết anh chàng Tiến gửi biếu món gì mà trịnh trọng quá vậy. Ông cũng đưa tay chào Tim theo kiểu nhà binh, rồi mời Tim ngồi xuống ghế sofa; nhưng Tim vẫn đứng nghiêm và yêu cầu ông mở gói quà. Ông rụt rè chưa biết tính sao thì bà Phát đứng gần đó nói:&lt;br /&gt;- Thì ông cứ mở xem chú Tiến gửi cho cái gì.&lt;br /&gt;Ông Phát bóc lớp giấy hoa bọc ngoài cái hộp nhỏ. Hai tay ông run run mở hộp. Mắt ông chợt sáng lên khi nhìn thấy tấm huy chương. Một cảm giác bâng khuâng len vào tâm tư. Những ký ức xưa cũ chợt hiện lên trong trí, hình ảnh những trận chiến oai hùng của đơn vị như nổ bùng trong ông. Từng khuôn mặt  bạn bè, chiến hữu, thuộc cấp đã anh dũng ngã xuống vì những viên đạn đồng vô tri của giặc thù để bảo vệ nền tự do dân chủ của Miền Nam trong suốt 20 năm chiến đấu lần lượt trở về trước mặt ông. Mắt ông nhoà lệ...&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;VŨ UYÊN GIANG&lt;/strong&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;Charlotte, North Carolina&lt;br /&gt;Tháng 12/2002&lt;br /&gt; &lt;/div&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/9009333266934427487-8370402711460778091?l=trenduongbiengioi.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://trenduongbiengioi.blogspot.com/feeds/8370402711460778091/comments/default' title='Post Comments'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://trenduongbiengioi.blogspot.com/2009/10/mon-qua-xuan-vo-gia-ong-phat-ngoi-tham.html#comment-form' title='0 Comments'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/9009333266934427487/posts/default/8370402711460778091'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/9009333266934427487/posts/default/8370402711460778091'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://trenduongbiengioi.blogspot.com/2009/10/mon-qua-xuan-vo-gia-ong-phat-ngoi-tham.html' title=''/><author><name>Vũ Uyên Giang</name><uri>http://www.blogger.com/profile/14317469376846546930</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='27' height='32' src='http://4.bp.blogspot.com/_a9tmOxlA1Y8/SurV9bfSPWI/AAAAAAAAAAU/3GQa-eia6Kw/S220/vinh1.jpg'/></author><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-9009333266934427487.post-3677187282466858050</id><published>2009-10-30T12:05:00.000-07:00</published><updated>2009-10-30T12:08:09.371-07:00</updated><title type='text'>MƠ ƯỚC MỘT MÙA XUÂN</title><content type='html'>&lt;div align="justify"&gt;&lt;span style="font-size:130%;color:#000066;"&gt;&lt;strong&gt;MƠ ƯỚC MỘT MÙA XUÂN&lt;/strong&gt;&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Thành co ro trong chiếc áo pardessus bằng nỉ, nặng chình chịch như khoác cả tấm chăn bông trên người. Anh mới từ Trại tị nạn Bataan, Phi Luật Tân đến thành phố gió Chicago được tròn 2 tháng thì gặp ngay cơn mưa tuyết và cái lạnh buốt da chào đón.&lt;br /&gt;Hải, người bạn tù và cũng là người bảo trợ của anh cho biết: "Đây mới chỉ là cơn tuyết mỏng đầu mùa, chưa thấm gì so với Tháng 1 và 2 là hai tháng cao điểm, tuyết rơi nhiều, dày cả gang tay và lạnh có khi xuống đến -20 hoặc - 30 độ F". Chưa thấm gì mà Thành cũng đã thấy "rét mướt" đến tận xương tủy. Cơn lạnh đến nhanh quá khiến những chiếc lá vàng chưa kịp lìa cành, vẫn vàng óng trên cây, run rẩy trước từng cơn gió buốt giá từ hồ Michigan thổi về. Thành có cảm tưởng như đang bị hàng ngàn cây kim nhọn xoáy vào từng chân lông, kẽ da khiến thân thể anh tê cóng. Tấm thân còm cõi sau bao năm tháng dài bị đầy ải trong lao tù cộng sản, thêm với tuổi đời chồng chất khiến sức chịu đựng của cơ thể anh bị suy yếu đi nhiều. Thành thầm nghĩ: "Chẳng biết mình có thể chịu đựng nổi cái lạnh của vùng này không? Có lẽ chính vì lạnh mà đa số người Việt đã tập trung về các tiểu bang ấm áp như California hoặc Texas..." Thành chợt nhớ đấn mấy câu thơ trong bài Le Lac của Lamartine anh đọc từ thuở còn đi học:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;"Quand la feuille des bois tombe dans la praire&lt;br /&gt;Le vent du soir s' élève et l' arrache aux vallons.&lt;br /&gt;Et moi, je suis semblable à la feuille flétrie&lt;br /&gt;Emportez-moi comme elle, orageux aquillons!"&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tạm dịch:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;"...Khi chiếc lá vàng rơi&lt;br /&gt;Gió chiều cuốn cuối trời&lt;br /&gt;Thân ta như cánh lá&lt;br /&gt;Bay hoài phận nổi trôi"&lt;br /&gt;(VUG phỏng dịch)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Chỉ còn vài ngày nữa là đến ngày lễ Thansgiving (Lễ Tạ Ơn) nên ở đâu cũng thấy chuẩn bị rộn rịp cho ngày lễ; nhất là ở các của kính của các chợ bán thực phẩm của Mỹ như Jewel hay Dominick's... la liệt những tấm posters quảng cáo các món hàng hạ giá cho dịp lễ quan trọng trong năm. Thành rẽ vào đường Argyle, khu phố chợ Việt Nam ở Chicago san sát những cơ sở thương mại khang trang, sầm uất;; anh muốn tìm mua một món quà tặng cho vợ chồng Hải, để kỷ niệm gặp lại nhau trên xứ người; nhất là nó lại rơi đúng vào dịp Lễ Tạ Ơn nên càng thêm ý nghĩa. Thành kh6ng bao giờ nghĩ rằng anh sẽ có cơ hội vượt biển vì hoàn cảnh gia đình cùng quẫn và cũng chẳng bao giờ mơ ước có ngày gặp lại Hải, một người bạn tù thân thiết, ở một xứ tự do như xứ Hoa Kỳ này.&lt;br /&gt;Thành còn nhớ những ngày trước khi rời Việt Nam, lúc Hải còn phải trốn tránh sự truy lùng của bọn công an Việt cộng vì tham gia một tổ chức kháng chiến chống cộng trong nước với anh. Hải đã chứng tỏ là một người có bản lãnh; cựu sĩ quan ngành Quân báo có khác, dù phải thay đổi chỗ ở hàng ngày, chỉ di chuyển rời chỗ ẩn náu khi màn đêm buông xuống; phải tránh né sự dòm ngó, săn đuổi, truy lùng của cộng sản; vậy mà anh vẫn sống một cách chững chạc đàng hoàng. Hải vẫn đi đứng hiên ngang tỏ ra không chút khiếp sợ giặc cộng, vẫn toan tính những chuyện đội đá vá trời…&lt;br /&gt;Ngày cuối cùng trước khi xuống Rạch Giá để vượt biển, Hải đã đột nhập vào chỗ ở của Thành, lúc ấy đang nương náu trong một ngôi chùa ở Phú Nhuận, nơi có nhà thơ Bùi Giáng cũng đi về hàng ngày làm nơi tạm trú; Thành và Hải đã ngồi uống rượu đế với nhau, trò chuyện gần suốt đêm… Hôm ấy Thành cảm thấy buồn dày dặc vì nghĩ sẽ phải vĩnh viễn xa một người bạn thân qúi, một người cùng tâm huyết, có cùng những nghĩ suy về thân phận, về đất nước và có cùng chung chí hướng. Xa nhau không biết đến bao giờ mới có dịp gặp lại nhau?&lt;br /&gt;Nhân lúc Hải bị truy lùng phải tìm đường trốn ra nước ngoài, anh đã được giao nhiệm vụ ngay khi đặt chân đến bến bờ tự do ở nước đầu tiên, phải nói cho người Mỹ biết những hoạt động của bọn anh trong nước để cầu mong được Hoa kỳ tài trợ, giúp đỡ… Thời gian ấy những người trong nước vẫn còn tin vào tình nghĩa khắng khít của chính quyền Hoa Thịnh Đốn với người bạn đồng minh chiến đấu. Họ hoàn toàn không nghĩ đến chuyện một cường quốc như Hoa Kỳ lại bội phản đê hèn một đồng minh tiền đồn chống cộng như Miền Nam và họ lại càng không nghĩ đến chuyện một cường quốc như Hoa Kỳ sau khi thảm bại ở Việt, Miên, Lào cuốn cờ tháo chạy lấy thân đã muối mặt lật lọng, dối trá và dối gạt ngay cả nhân dân của họ, hy sinh những người bạn đồng minh chiến đấu can trường, quả cảm trước làn sóng xâm lăng đỏ. Vì vậy họ vẫn tin tưởng là khi trình bày cho Mỹ biết chủ trương, đường lối và sách lược của những người còn ở trong nước, còn đang tiếp tục chiến đấu quyết liệt với cộng sản; họ sẽ được chính quyền Mỹ tiếp tay… Ngay khi đến được Thái Lan, Hải đã tiếp xúc với các viên chức thẩm quyền của Tòa Đại Sứ Hoa Kỳ ở Bangkok và thuyết trình trước những viên chức có thẩm quyền là đại diện chính quyền Hoa Kỳ về tình hình trong nước và hoàn cảnh chiến đấu của những người chiến sĩ tự do trong nước trước những giới chức thuộc các ngành An Ninh, Tình Báo và Quốc Phòng của Mỹ ở Thái Lan; nhưng người Mỹ chỉ muốn quên lãng nỗi đau bại trận nhục nhã nhất trong lịch sử từ ngày lập quốc đến nay ở Đông Dương. Chủ đích chính của họ bây giờ chỉ muốn mướn các tổ chức đấu tranh của người Việt làm công tác tìm kiếm tù binh Mỹ hoặc các người Mỹ còn được ghi nhận là mất tích trong khi thi hành công vụ ở Việt Nam, chứ không thiết tha đến việc giúp người dân Miền Nam quang phục lại đất nước. Chính quyền Mỹ đã phản bội những đồng minh của họ ở Đông Dương, hèn hạ đâm lén sau hàng triệu chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa quả cảm và bất nhân bất nghĩa khi đẩy nhiều chục triệu người dân lành vô tội xuống đáy sâu địa ngục đỏ phi nhân và vô lương tâm khi làm ngơ trước nỗi thống khổ của bao nhiêu triệu người dân Việt sau ngày đại tang 30/4/1975 khi để cộng sản cưỡng chiếm Miền Nam, đặt ách thống trị đất nước bằng bạo lực và nhà tù. Như vậy thì làm sao trông mong có sự trợ giúp của họ để quang phục quê hương? Hải chỉ tìm thấy câu trả lời khi đã ngồi trong Tòa Đại Sứ Mỹ ở Bangkok. Anh đã có dịp nhìn rõ bộ mặt tráo trở, đê tiện, bỉ ổi của người Mỹ nên phát tởm và khinh khi tính ích kỷ, cá nhân chủ nghĩa của Mỹ… Sau sự thảm bại ở Việt Nam, cái bóng ma chiến tranh và sự hy sinh khốc liệt một cách vô ích của hơn 58 ngàn tử sĩ luôn ám ảnh trong tâm tưởng người Mỹ và các chính khách Mỹ, làm họ khiếp sợ thì làm sao họ có đủ hùng tâm, dũng khí để giúp cho dân tộc anh vùng lên giải phóng đất nước thoát vòng kìm kẹp của giặc đỏ? Đó là lý do tại sao người Mỹ khi tiếp xúc với các tổ chức người Việt từ khắp nơi trở về Thái Lan để mưu đồ chuyện phục quốc như các ông Võ Đại Tôn, Lê Quốc Túy, Thái Quang Trung, Hoáng Cơ Minh…, họ chỉ tính chuyện lợi dụng những nhân vật này làm công tác tay sai cho Mỹ; một thứ được thuê mướn theo hợp đồng để làm công tác tìm kiếm tù binh Mỹ mất tích trân chiến trường Đông Dương; một vấn đề nhức nhối khiến chính quyền Mỹ ăn ngủ không yên với dân chúng họ.&lt;br /&gt;Nhân dịp này người Mỹ cũng đã offer cho anh một cái Job béo bở là làm sĩ quan An Ninh cho cơ quan DAO, chuyên thanh lọc người tị nạn ở các Trại Tị Nạn trên đất Thái, phỏng vấn an ninh các người quá cảnh Thái Lan từ Việt Nam qua các chương trình ODP, Con Lai và các Tù Binh, Hàng Binh VC bắt được ở biên giới Thái – Miên. Thời gian này Hải đã có cơ hội phỏng vấn hầu hết những người Việt trên đất Thái qua các chương trình ODP, Con Lai hoặc vượt biên, vượt biển. Trong số những người anh đã phỏng vấn, thanh lọc có cô em gái ca sĩ Elvis Phương mà sau này đã trở thành ca sĩ Kiều Nga, có nhạc sĩ Lê Trọng Nguyễn tác giả nhạc phẩm nổi tiếng Nắng Chiều. Anh Lê Trọng Nguyễn đã khóc khi Hải cho anh nghe băng nhạc Tủi Nhục Ca của Hà Thúc Sinh do Khánh Ly hát… và cũng trong thời gian làm việc ở Thái Lan, Hải đã cứu được 1 cựu phi công của Không lực VNCH tên Lê Văn Tống, tự Lý Tống ở nhà giam Arranya Prathet, Thái Lan.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Cơ may cũng đến với Thành vài năm sau, khi tổ chức kháng chiến mà anh tham gia bị cộng sản phá vỡ; hầu hết các cấp lãnh đạo của tổ chức kháng chiến bí mật bị bắt và bị tuyên án từ 20 năm đến tử hình; một mình Thành thoát nạn và ẩn náu ở Saigon; nhưng sau đó anh lại bị chính một tên bạn đốn mạt Phan Lạc Luộc chỉ dẫn cho công an VC chỗ ẩn trốn… May mà anh mới rời chỗ ẩn náu vài giờ trước khi công an VC ập vào bắt bớ. Sau một thời gian dài trốn tránh, anh được một người bạn thương tình giúp đỡ cho đi vượt biên bằng đường biển và đã đến được Phi Luật Tân. Thành không có địa chỉ của Hải ở Hoa Kỳ nên không sao liên lạc được với Hải. Tình cờ một hôm anh đọc thấy trên một mẩu nhắn tin ngắn tìm anh trong tờ báo Việt ngữ gửi từ Mỹ sang Trại tị nạn cho đồng bào đọc. Làm sao nói hết nỗi vui mừng của Thành lúc ấy; những hàng chữ như nhảy múa trước mắt anh. Anh còn nhớ như in trong đầu vài hàng chữ ngắn ngủi nhắn tin của Hải như sau:&lt;br /&gt;“Nhắn Tin: Cần tìm bạn tên là Lê Văn Thành, sanh năm 1941 ở Bắc Việt, cựu Đại Úy, Đại đội trưởng của Sư đoàn 3 Bộ binh (trước 30/4/1975); đã cải tạo ở Trại K.1 Suối Máu Biên Hòa năm 1978. Nghe nói đã vượt biên đến bến bờ tự do nhưng không biết ở Trại tị nạn nào. Nếu qúy vị biết tin tức của bạn tôi, xin liên lạc về: Vũ Quang Hải, Tòa soạn báo Thời Việt, P.O.Box 0000, Chicago, IL 60640 – USA. Xin thành thật cảm ơn qúy vị”&lt;br /&gt;Hải quả là một người quá tỉ mỉ và cẩn thận, anh ghi rõ những chi tiết như vậy thì làm sao mà lầm lẫn được? Hình ảnh người bạn hào sảng ngày nào lại hiện lên rõ nét trong tâm trí anh. Thành ghi vội mội lá thư cho Hải biết tình trạng của anh ở Trại tị nạn. Chỉ 2 tuần lễ sau, Thành đã nhận được thư của Hải cùng giấy tờ bảo lãnh Thành về định cư ở Chicago. Hải cũng không quên gửi cho Thành một Morney Order để anh có tiền chi tiêu trong Trại. Thành thật cảm động trước tấm lòng của Hải; đành rằng một vài trăm bạc đối với người ở Mỹ chẳng đáng bao nhiêu, nhưng nó là cả cái chân tình đối với nhau… Và bây giờ thì anh đã là một người tị nạn như hàng trăm ngàn người tị nạn Việt Nam khác trên đất Hoa Kỳ này.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Chiều thứ sáu nên khu phố chợ Argyle của người Việt đông đảo, tấp nập vì ai cũng đi chợ mua sắm cho cuối tuần. Người nào cũng vội vã, có lẽ vì đời sống xứ này không gian quá rộng khiến con người phải hối hả chạy đua với cây kim đồng hồ hàng ngày, hàng giờ; nên con người tự đặt mình thành cơ phận một cỗ máy, cứ chạy đều, quay đều một cách đơn điệu. Ôi! Đâu còn cái cảnh nhàn nhã thảnh thơi như ở quê nhà ngày xưa.&lt;br /&gt;Thành loay hoay mở khóa cửa; giờ này chắc vợ chồng Hải cũng đã đi làm về. Hải là một người năng động và nặng lòng với đất nước. Dù bận rộn với công việc là Technician ở một Hãng Điện Tử, anh vẫn không quên bổn phận phải chống cộng, nên đã chủ trương tờ báo Thời Việt làm cơ quan đấu tranh trên mặt trận văn hóa. Thành còn nhớ mấy câu thơ mang nặng tâm sự của một người tị nạn khiến nhiều người đọc mủi lòng:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;“Ta mang hoài bão trên vai&lt;br /&gt;Nặng thân tị nạn, tủi đời lưu vong&lt;br /&gt;Thù xưa ấn dấu trong lòng&lt;br /&gt;Nhục tràn sông bể, cuốn giòng thời gian&lt;br /&gt;Nửa khuya thức giấc bàng hoàng&lt;br /&gt;Niềm đau bại trận hàng hàng lệ rơi“&lt;br /&gt;(Hoài Bão – thơ VUG)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tiếng hát Nguyệt Ánh từ chiếc máy cassette trong một căn appartment nào đó của chung cư này vọng ra, chạy dọc theo hành lang hun hút vàng vọt ánh điện của cao ốc nghe rõ mồn một: “Anh vẫn mơ một ngày về. Quê dấu yêu không còn cộng thù...“ Niềm mơ ước nhỏ nhoi như vậy đến bao giờ mới có được? Đến khi nào những người lưu dân được trở về quê cha đất tổ sống trong cảnh thanh bình, tự do bên mảnh ruộng thửa vườn; không còn bóng dáng chiếc cờ đỏ tanh hôi vì nhuộm đẫm máu người? Nghĩ đến ngày ấy ai mà không mừng vui? Toàn dân triệu người như một cùng chung sức, chung lòng xây dựng một nước Việt Nam tự do, dân chủ và nhân quyền trở thành một xứ phồn thịnh và tiến triển ở Châu Á. Lúc đó, người Việt ở khắp mọi nơi trên trái đất, những chuyên viên trẻ với tri thức, kiến thức học hỏi được từ các quốc gia tiên  tiến nhất trên thế giới sẽ cùng nhau đem hiểu biết chuyên môn của mình để xây dựng đất nước thì Việt Nam sẽ trở thành một quốc gia tiến triển vượt bực về mọi ngành, mọi mặt... Đó không chỉ là mơ ước của người Việt hải ngoại, mà còn là niềm kỳ vọng của hơn 80 triệu người đang khổ đau sống dưới sự cai trị bạo tàn của cộng sản trong nước.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Hải ngồi dựa ngửa trong chiếc ghế bành rộng, chân gác trên mặt bàn thấp ngổn ngang những báo và các tạp chí từ khắp mọi tiểu bang gửi đến cho anh; tay cầm lon bia, mắt đang chăm chú theo dõi các cầu thủ football trên màn ảnh máy truyền hình. Anh cũng có thói quen như các người Việt định cư lâu năm ở Mỹ, đã nhận nơi này làm quê hương thứ hai, nên hội nhập vào đời sống và học những thói quen như người bản xứ. Họ cũng có thói quen “ghiền“ môn thể thao mà Thành cho là kỳ quái này như những người Mỹ chính gốc. Thành cứ luẩn quẩn hoài trong đầu về hình ảnh các cầu thủ ăn mặc kệch cỡm như phi hành gia bay lên không gian, dưới mắt lại kẻ 2 vệt đen kịt như hề, xông húc vào nhau, nằm đổ chồng lên nhau để giành giựt trái banh cà na. Anh thắc mắc hoài không hiểu sao họ lại gọi đó là football? Vì thật ra họ dùng chân để đá banh rất ít mà chủ yếu là ôm banh chạy; theo sự suy nghĩ đơn giản của Thành, football phải là môn túc cầu đá bằng đôi chân mà suốt thời thơ ấu anh đã lăn lộn với trái bóng trên những cánh đồng nhấp nhô những gốc rạ khô khốc, vàng úa ở quê nhà. Bên Mỹ họ lại gọi môn túc cầu là soccer và không được người Mỹ ưa chuộng cho lắm. „Không biết đến khi nào mình mới mê được cái môn bóng giành giựt, vật lộn, núi kéo kỳ cục này? Lúc đó không khéo mình lại thành Mỹ mất.“ Thành chợt cười vu vơ với cái ý nghĩ khôi hài này. Anh lên tiếng hỏi Hải:&lt;br /&gt;- Ông bà về lâu chưa?&lt;br /&gt;Hải ngừng xem, ngước nhìn Thành:&lt;br /&gt;-Tụi tôi mới về được chừng 20 phút thôi. Ủa! Ông đi đâu về vậy? Hôm nay có đi học không?&lt;br /&gt;- Có. Già rồi học không vô. Chữ với nghĩa, mình cứ phải uốn éo cái lưỡi giống thằng ngọng tập nói; nghĩ mà mệt quá. Thành đáp.&lt;br /&gt;Hải nói giọng an ủi:&lt;br /&gt;- Ai cũng vậy thôi. Tụi tôi hồi mới qua cũng thế, mệt ghê lắm, vừa đi học, vừa đi làm  cực lắm. Nghe người Mỹ nói cứ như vịt nghe sấm cả một lũ, ù ù cạc cạc chẳng hiểu gì. Vậy mà chỉ vài năm thì đâu cũng vào đấy tất. Ông đừng bi quan buông xuôi. Nhớ lúc ở trong tù, mình có bao giờ nghĩ rằng sẽ có ngày ngồi ở cái xứ này đâu! Vậy mà mau quá hả ông? Vừ nói Hải vừa khui 1 lon bia đưa cho Thành.&lt;br /&gt;- Ừ! Thật không ngờ có ngày sang bên này. Tôi cứ tưởng trong mơ.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Thành còn nhớ mãi những hình ảnh khi còn bị lưu đầy trong đáy sâu địa ngục đỏ  của lao tù cộng sản, khi anh và Hải cùng chia sẻ với nhau những khổ ải, gian truân, ngọt bùi cay đắng của kiếp bại binh trong tay giặc. Có sống với nhau những tháng ngày gian khổ mới cảm nhận được cái tình lính nó sâu đậm đến là dường nào trên cõi đời này. Có sống trong quân ngũ người ta mới biết tại sao người lính có thể chia ngọt sẻ bùi với nhau, san sẻ cho nhau từng niềm vui cũng như nỗi đau, chia nhau từng giọt nước hiếm qúy, từng điếu thuốc hiếm hoi, từng muỗng đường, từng ngụm cà phê. Người ta mới biết tại sao trong chiến trận người lính sẵn sàng chết cho bạn mình được sống mà không hề ân hận, hối tiếc… Mấy anh chàng nhạc sĩ của Ban AVT đã rất chí lý khi viết lời cho bản nhạc hài hước “Huynh Đệ Chi Binh” mà ngày xưa Thành thường nghe trên làn sóng điện của Đài Phát Thanh Quân Đội khi đồn trú ở những tiền đồn heo hút, lúc đó anh cứ nghĩ bản nhạc chỉ thuần túy hài hước cho vui; nhưng sau nhiều năm dài trong lao tù, khi nghe lại các bạn tù hát, anh mới cảm nhận được cái hay thâm thúy của bản nhạc. Anh thấy chí lý vô cùng!&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;“Huynh đệ chi binh là gì đó anh Hai?&lt;br /&gt;Huynh đệ chi binh là tình cùng chung đời lính… thương nhau khác chi nhân tình…”&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Mà có lẽ đúng như thế. Thương nhau còn hơn cả nhân tình nữa là khác. Thành thấy mấy anh nhà văn, nhà báo đã ví von một cách quá đáng khi cho rằng “bạn nhà binh cũng như tình  nhà thổ” để ví von so sánh giữa tình bạn của lính chẳng khác gì cái tình thoáng qua của mấy cô bán phấn buôn hương. Chỉ ngắn ngủi trong thoáng chốc mong manh…&lt;br /&gt;Thành còn nhớ những ngày dài hành quân gian truân, cực khổ, đơn vị bị địch vây hãm, thiếu tiếp tế; thiếu lương thực, thuốc men; từ lính đến quan phải chia sớt cho nhau từng giọt nước đục ngàu, từng bụm gạo sấy, từng hơi thuốc lá và đã lo lắng cho nhau từng chút nhỏ hy vọng mong manh, an ủi nhau từng nỗi khổ cực và vẫn cười cợt một cách vô tư. Khi lỡ bước sa cơ nằm trong tù ngục cộng sản; trong lúc thập tử nhất sinh, khi thần chết đã cận kề, đã đưa lưỡi hái tử thần để định kéo chàng về thế giới bên kia thì chính những người bạn tù cùng khổ đã gom góp những viên thuốc Tây hiếm qúy của các bạn tù trong Trại giam để cứu lấy sinh mạng của anh.  Họ đã chẳng nề hà cực khổ, thiếu thốn, vì biết đâu khi họ bị bệnh hoạn sẽ không còn thuốc cứu chữa… Nhưng dù sao mặc lòng, họ vẫn dốc hết ra để mong cứu được bạn mình và họ thật vui mừng khi thấy bạn đã thoát cơn nguy hiểm.. Có những anh bạn không nề nguy hiểm đã chui rào sang các trại lân cận để lùng kiếm thuốc về cứu Thành; hành động phiêu lưu mạo hiểm này dễ chết như chơi vì nếu bọn vệ binh gác tù bắt gặp thì sẽ chẳng còn mạng sống để về với vợ con, gia đình. Lúc đó họ chỉ còn nghĩ đến cứu sinh mạng của bạn là trên hết. Nghĩ đến đây khiến Thành nghĩ đến những người bạn cùng tù với anh vô cùng. Ôi! Làm sao tôi có thể quên được những người bạn đã chia sẻ với tôi từng phân chiếu hẹp, từng củ khoai hà, từng cọng rau lang rau muống, rau cải trời, từng hột muối??? Làm sao tôi có thể quên được những tháng ngày dài khổ ải trong các trại biến hình của cộng sản? Bọn Việt cộng phi nhân muốn chúng tôi hóa thú cả lũ, muốn chúng tôi giết hại lẫn nhau, đạp lên nhau mà sống, hãm hại lẫn nhau bằng những mớ lý luận giáo điều xuẩn ngốc, ngu muội; nhưng chúng đã hoàn toàn thất bại vì làm sao có thể cải tạo chúng tôi bằng mớ chữ nghĩa ngu ngơ và mớ lý luận dốt nát đó? Trừ phi chúng bửa đầu chúng tôi ra, nạo hết óc vất đi họa may mới thay đổi được suy nghĩ của chúng tôi về cộng sản. Nghĩ đến bạn bè, Thành chợt ngầy ngật trong một cảm giác buồn bực, xốn xang. Anh cứ nghĩ hoài, trăn trở hoài mà không nghĩ ra phương cách nào để cứu những bạn bè còn đang gian truân trong lao tù cộng sản từ Nam ra Bắc, từ những hải đảo xa xôi cho đến tận rừng sâu núi thẳm ở Hoàng Liên Sơn, Việt Bắc, Lai Châu, Sơn La, Vĩnh Phú… , từ Chí Hòa đến Hàm Tân, Bù Gia Mập, Năm Căn… và ở khắp mọi nơi trên toàn cõi Việt Nam. Nhà tù giăng mắc khắp nơi, nhiều hơn trường học; chúng dùng cả những chùa chiền, nhà thờ, rạp hát làm chỗ giam giữ tù nhân như rạp Đại Lợi ở Ngã Ba Ông Tạ; đều được VC chiếm cứ làm thành nơi giam cầm kiên cố để nhốt Quân Dân Cán Chính Miền Nam. Đối với bọn người vô thần cộng sản thì Phật, Chúa, Thánh Thần chỉ là sảm phẩm phản động của chủ nghĩa Tư Bản và Phong Kiến cần phải “đánh tận gốc, trốc tận rễ”; những nơi có thể tập hợp được quần chúng nghe theo đều bị chúng tiêu diệt vì sợ sẽ trở thành đối lực của chúng. Chúng bắt buộc mọi người chỉ được nghe theo đảng, tin theo đảng và làm theo những gì đảng yêu cầu. Muốn được như vậy, cộng sản phải bần cùng hóa nhân dân, ngu dân và tạo thành một nếp thông tin một chiều để quần chúng không còn nhìn thấy những tội lỗi tầy đình của đảng. Vì vậy chúng không cần đến những tôn giáo và những nơi thờ phượng thiêng liêng.&lt;br /&gt;Thành lặng người trong giòng suy nghĩ. Anh cứ tưởng chừng như mình còn đang sống trong môi trường khổ ải ở trong nước. Tiếng Hải chợt vang lên khiến anh giật mình:&lt;br /&gt;- Ông nghĩ gì mà thừ người ra vậy? Bộ nhớ đến bà đầm hả?&lt;br /&gt;Thành cười xòa:&lt;br /&gt;- Đâu có! Tôi đang nghĩ đến những ngày mình bị giam cầm chung với nhau ở Phú Quốc, Long Giao, Suối Máu… Nghĩ mà kinh hoàng thật. Chẳng hiểu sao mình lại sống được trong điều kiện nghiệt ngã như vậy? Cứ như là một phép lạ nhiệm màu ông thấy không? Lúc đó sao tinh thần bọn mình vững thế nhỉ?&lt;br /&gt;- Thì phải vậy chứ sao? Chính nhà tù lại là nơi đào tạo con người có một lập trường vững, lý tưởng chống cộng triệt để. Trước 30/4/1975, bọn mình đi vào quân đội chỉ là nhiệm vụ của thanh niên trong thời chiến và mọi người có mấy ai hiểu rõ cộng sản đâu; bọn mình chiến đấu vì phải chiến đấu giữ nhà, giữ đất thế thôi! Nhưng nhờ lao tù, sau khi bị giam cầm, mình biết rõ cộng sản vì thế mình và cộng sản là 2 chiến tuyến rõ rệt, hai ý thức hệ rõ rệt không thể nào đi chung với nhau, thỏa hiệp với nhau được. Ở trong tù, anh em được trang bị một lập trường chống cộng vững vàng hơn và nhìn rõ bản chất lưu manh, xảo quyệt và đê hèn của cộng sản hơn thì làm sao có thể tin tưởng chúng được?&lt;br /&gt;Bất chợt Hải hỏi:&lt;br /&gt;- Mấy bữa nay ông có theo dõi trên truyền hình và báo chí về những diễn biến đang xảy ra ở ngay cái nôi của cộng sản là Liên sô và Đông Âu không?&lt;br /&gt;Thành cười: Tôi đâu nghe kịp họ nói gì. Chỉ đoán loáng thoáng thôi.&lt;br /&gt;- Từ từ rồi ông nghe sẽ quen. Mấy ngày nay trên các hệ thống truyền hình và truyền thanh toàn thế giới đang sôi nổi tường thuật về sự đổ sụp của các  nước cộng sản mà đứng đầu là Liên Sô và các nước Đông Âu. Các nước Ba Lan, Tiệp Khắc, Hung Gia Lợi, Bảo Gia Lợi, Lỗ Ma Ni cùng lúc theo nhau sụp đổ, đến bức tường ô nhục chia đôi Đông – Tây Bá Linh đã được phá bỏ. Lần đầu tiên sau nhiều chục năm Đông và Tây Đức đã thông thương và thống nhất. Nhân dân các nước này đã nhìn thấy chế độ cộng sản chỉ đưa họ xuống đến đáy sây địa ngục với bao khổ đau chồng chất nên cương quyết dứt bỏ nó, vùng dậy đòi tự do, dân chủ và nhân quyền.&lt;br /&gt;- Thì tôi coi TV cũng đoán lờ mờ như vậy. Thành nói.&lt;br /&gt;Hải giảng giải một cách tỉ mỉ cho Thành nghe các diễn tiến của biến động Đông Âu kéo theo sự phá sản của toàn bộ hệ thống cộng sản. Anh sôi nổi kể cho Thành nghe cuộc đấu tranh dũng cảm và can trường của nhân dân các nước cộng sản anh em đời đời bền vững của cộng sản Việt Nam. Cái chết của vợ chồng tên độc tài khát máu Ceaucescu; bức tường ô nhục chia đôi Đông Tây Bá Linh sau nhiều chục năm dài đã bị phá vỡ như thế nào v.v… Chỉ trong vòng có mấy tháng, cả một hệ thống cộng sản bị đổ sụp một cách nhanh chóng, ngoài dự tưởng của nhiều người. Ngoài sự tiên liệu của cả cộng sản. Chưa bao giờ khối cộng sản lại bị hoang mang giao động như ngày nay. Hình ảnh pho tượng khổng lồ ông tổ Lenine của cộng đảng Nga ở Mạc Tư Khoa bị treo cổ bằng giây cáp thép để bứng khỏi bệ vất nằm lăn lóc và được hầu hết báo chí trên thế giới đăng tải ngay nơi trang nhất và tất cả các hệ thống truyền hình trên thế giới cũng đã truyền tải hình ảnh sống động này đi khắp nơi cũng đủ chôn vùi chủ nghĩa cộng sản sau nhiều chục năm làm mưa làm gió, tàn ác vô nhân, sát hại vô số người ở khắp nơi trên thế giới. Riêng ở Liên Bang Sô Viết, nơi được coi là thành trì của cộng sản, là cái nôi ưu việt của xã hội chủ nghĩa cũng đã bị giải tán đảng cộng sản, Liên Bang Xô Viết cũng bị giải tán và các tiểu quốc bị sáp nhập thành Liên Bang nay cũng tuyên bố độc lập.&lt;br /&gt;Thành chăm chú lắng tai nghe Hải tóm lược các tin tức mới nhất về sự đổ sụp của hệ thống cộng sản. Điều này ngay khi còn ở trong tù, anh em đã nhiều lần bàn thảo với nhau về sự thoái trào của chủ nghĩa cộng sản sau hơn 60 năm (thời điểm năm 1977 – 1978 khi anh em còn đang trong trại giam) phát triển bằng bạo lực; nhưng lúc đó bọn anh chưa tiên đoán được chính xác thời gian cộng sản sẽ đổ sụp và sụp đổ như thế nào. Thực ra điều này không phải là khó đoán vì căn cứ vào sự biến thiên của lịch sử nhân loại và sự phát triển của nền kinh tế tập trung của cộng sản chỉ làm nền kinh tế càng ngày càng trì trệ, cộng thêm chủ trương “hồng hơn chuyên”, họ chỉ chú trọng vào lòng trung thành với đảng hơn là trình độ chuyên môn khoa học kỹ thuật; nói trắng ra là với chính sách ngu dân để dễ bề cai trị của đảng tạo nên một xã hội với trình độ dân trí thấp kém, dốt nát; từ đó đưa đến tình trạng những người mù lái chiếc xe kinh tế xã hội chủ nghĩa một cách không định hướng, không chủ trương và không kế hoạch; tất nhiên hậu quả là đưa đất nước xuống đáy sâu vực thẳm của nghèo nàn, lạc hậu và chậm tiến. Càng ngày cộng sản càng dẫn dắt đất nước đi sâu vào ngõ cụt, vào con đường bế tắc không sao cứu gỡ thì sao tránh khỏi sụp đổ? Bây giờ những suy nghĩ ấy của anh em cách nay hơn nhiều chục năm đã trở thành sự thật. Các nước cộng sản đã thật sự phá sản. Các đảng cộng sản Đông Âu và Liên sô đã bị giải tán. Nhiều nước đã có những cuộc bầu cử tự do dân chủ và người dân đã được quyền chọn lực thể chế chính trị cũng như người lãnh đạo đất nước của họ không phải đảng viên cộng sản như trước kia. Đây là một biến cố lớn lao có tác dụng thay đổi bộ mặt thế giới.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Thành sung sướng nghĩ đến ngày được đặt chân trở lại quê nhà khi đấ nước thoát ách cộng sản để sống một cuộc đời bình dị của một người dân một nước tự do, dân chủ và nhân quyền. Cái bóng ma cộng sản không còn là nỗi ám ảnh, khiếp sợ của người dân. Từ Bắc chí Nam sẽ rộn rã tiếng hò câu hát. Từ nông thôn cho đến thành thị sẽ vang vang tiếng nói cười. Trên khuôn mặt trẻ thơ sẽ rạng rỡ và không càn vẻ xanh xao, vêu vao vì thiếu ăn, thiếu dinh dưỡng. Nguồn nhân lực dồi dào của hơn hai triệu người Việt hải ngoại sẽ đổ dồn về để cùng nhau xây dựng lại đất nước từ đống tro tàn. Giới trẻ ở hải ngoại với trí tuệ và tri thức học hỏi được từ những nước văn minh tiến bộ nhất thế giới sẽ góp phần xây dựng đất nước. Việt Nam sẽ trở thành một quốc gia tiến triển và phú cường vào bậc nhất Châu Á. Với những kinh nghiệm đau thương trong lịch sử mà lớp tuổi cha anh đã góp phần xương máu, giới trẻ sẽ rút ra được những bài học qúy giá của sự đoàn kết để cùng tái thiết và xây dựng đất nước từ hoang tàn đổ nát và từ đó họ sẽ có những hướng đi mới để giữ nước.&lt;br /&gt;Ngày ấy những người ở lớp tuổi của Thành, của Hải v.v… sẽ lui về sống đời an nhàn để hưởng những giây phút trân qúy của chuỗi ngày còn lại trên quê hương yêu dấu thực sự tự do, dân chủ và no ấm. Anh nhớ mang máng có một người nào đó đã viết rằng: “Không có ở đâu bằng chính quê hương của mình…”; điều đó Thành thấy đúng vô cùng. Đối với anh thà được sống trên mảnh đất, thửa vườn của ông cha để được tận hưởng mùi thơm của lúa trổ đòng đòng, để tìm thấy hương vị của quê hương không ở đâu xa mà chính là mùi đất, mùi bùn trong những mảnh ruộng, ao sen, mương rạch, cây trái đồng quê; trong tiếng hát câu hò trên giòng sông Tiền, sông Hậu, Sông Đồng Nai… Tất cả những thứ ấy như một hấp lực ma mãnh khiến con người ta bị cuốn hút vào cơn mê say, thèm thuồng, ao ước; và chỉ khi nào được thực sự sống trong cái niềm vui ấy, trong cái xã hội bình dị ấy, nơi người ta đã sinh ra và lớn lên bằng những kỷ niệm của một thời, một tuổi; người ta mới cảm thấy yên ổn trong tâm hồn.&lt;br /&gt;Ôi! Mùa Xuân bao giờ trở lại quê tôi???&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;VŨ UYÊN GIANG&lt;/strong&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;Chicago, Tháng 1 năm 1991&lt;br /&gt; &lt;/div&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/9009333266934427487-3677187282466858050?l=trenduongbiengioi.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://trenduongbiengioi.blogspot.com/feeds/3677187282466858050/comments/default' title='Post Comments'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://trenduongbiengioi.blogspot.com/2009/10/mo-uoc-mot-mua-xuan.html#comment-form' title='0 Comments'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/9009333266934427487/posts/default/3677187282466858050'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/9009333266934427487/posts/default/3677187282466858050'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://trenduongbiengioi.blogspot.com/2009/10/mo-uoc-mot-mua-xuan.html' title='MƠ ƯỚC MỘT MÙA XUÂN'/><author><name>Vũ Uyên Giang</name><uri>http://www.blogger.com/profile/14317469376846546930</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='27' height='32' src='http://4.bp.blogspot.com/_a9tmOxlA1Y8/SurV9bfSPWI/AAAAAAAAAAU/3GQa-eia6Kw/S220/vinh1.jpg'/></author><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-9009333266934427487.post-4406301820969008468</id><published>2009-10-30T11:02:00.000-07:00</published><updated>2009-10-30T11:06:57.219-07:00</updated><title type='text'>THƯƠNG TIẾC</title><content type='html'>&lt;div align="justify"&gt;&lt;span style="font-size:130%;color:#000066;"&gt;&lt;strong&gt;THƯƠNG TIẾC&lt;br /&gt;&lt;/strong&gt;&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;Lời nói đầu:&lt;/strong&gt; Đây là một câu chuyện có thật xảy ra trong Trại Tù Cải Tạo năm 1978. Tên các nhân vật và địa danh và những đối thoại được tác giả ghi lại trong thực theo ký ức của chính mình.           &lt;strong&gt;  - V U G&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;1.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Vũ nằm trên tấm ván gỗ ọp ẹp đã ngả sang màu nâu đậm, nhẵn bóng vì thấm mồ hôi từ lâu ngày. Manh chiếu rách tả tơi rớt ra những cọng cói nhỏ mềm nhũn. Cái nóng gay gắt của trưa hè khiến người chàng ngày ngật trong một cảm giác mệt mỏi, khó chịu; hơn nữa Khối của chàng lại là một căn nhà "tô nên (1), mái tôn, vách tôn nên càng nóng khủng khiếp. Giữa trưa nắng hè nằm trong nhà cũng giống như cho vào lò nướng bánh mì. Chàng đưa mắt nhìn mọi người đang chập chờn trong giấc ngủ trưa ngắn ngủi, từ anh chàng Khối phó Phan Bình Định (2) nằm ở đầu nhà đến ông già Vũ Quang Phục (3) nằm ở cuối phòng. người nào cũng trần trùng trục và nhễ nhại mồ hôi. Từ lâu nay Khối 21 vẫn được tên Hai Đề, cai tù phụ trách Đội 4/ Trại 2/L.19 Đoàn 500 Hốc Môn, coi là Khối "phản động và chây lười lao động" nhất Trại vì quy tụ toàn những tay tù sừng sỏ từ Long Giao về. Thành tích này khiến Khối trưởng Nguyễn Văn Long (4) lúc nào cũng nhăn nhó vì bị Hai Đề "dũa thảm thiết" khi "giao ban" (5) mỗi ngày.&lt;br /&gt;Vũ chợt cười vu vơ khi lần thẩn nghĩ rằng mình và đám bạn bè kia biến thành những thây ma nằm xếp hai hàng trong một căn nhà mồ lớn; mỗi người được làm chủ một giang sơn chiều ngang vừa đúng 3 gang tay với trăm cay ngàn đắng. Trong giấc ngủ chập chờn dường như người nào cũng lộ vẻ ưu tư. . . ưu tư vì kiếp tù đầy chung thân không án tích mà ngày về thì mù xa thăm thẳm; ưu tư vì từng hột cơm, từng củ khoai sùng, từng cọng rau muống, rau lang; ưu tư vì từng phân chiếu hẹp. Con người trước những gian truân, khổ ải bỗng trở thành nhỏ mọn, ti tiều; suốt ngày chỉ nghĩ đến những thủ thuật làm sao để đánh lừa cái bao tử của chính mình bằng những khẩu phần ăn bo bo hoặc ngô khoai ít ỏi. Cái nhìn của con người không ra khỏi miếng ăn. Cái gì cũng nhìn ra thực phẩm nuôi sống con người. Đôi khi đánh nhau cũng chỉ vì củ sắn, củ khoai... Cuộc đời tù đầy khiến nhiều người trở thành hèn mọn. Cái đói khiến nhiều người bộc lộ tất cả những ti tiện, nhỏ mọn và những thói xấu mà khi xưa người ta khéo léo che giấu dưới áo mão xênh xang. Những anh càng cao danh vọng, càng nhiều bằng cấp, học vị cùng minh; hưởng càng nhiều bổng lộc, ân sủng của quốc gia lại hèn mọn nhiều nhất. Chỉ ở trong hoàn cảnh khốn cùng của những trại tù họ mới bộc lộ, phơi bầy rõ con người thật của họ.&lt;br /&gt;Tiếng kẻng báo động chợt vang lên inh ỏi khắp nơi. Tiếng hò hét quát tháo hoà lẫn tiếng lên đạn súng AK lách cách của những tên vệ binh gác tù và tiếng chân chạy rầm rập trên đường từ cổng vào, giữa hai Đội 3 và 4 khiến tình hình có vẻ nghiêm trọng hơn. Vũ ngồi nhổm dậy nhớn nhác nhìn ra ngoài, anh nghĩ thầm: "Chắc lại có anh em nào trốn trại nên bọn cai tù mới hoảng hốt như vậy".&lt;br /&gt;Khối trưởng Nguyễn văn Long đeo vội cặp kính cận, lồm cồm ngồi dậy, gọi anh em trong Khối:&lt;br /&gt;- Mặc quần áo ra tập họp lẹ đi anh em!&lt;br /&gt;Mọi người thuộc Khối 21 bị đánh thức dậy, nhiều anh em lầu bầu chửi thề nhưng rồi cũng lục tục kéo nhau ra con đường trước sân tập họp. Cả Khối trưởng Long lẫn Khối phó Phan Bình Định cùng chạy lăng xăng kiểm người. Khi thấy đủ 50 người trong Khối, cả hai đều tỏ vẻ mừng rỡ vì ít nhất không thiếu người thì Khối trưởng và Khối phó không sợ bị trách nhiệm vì "quản người không chặt" (6).&lt;br /&gt;Tên cai tù Hai Đề đứng dưới bóng mát của cây điệp lớn phía Khối 17 chờ các Khối trưởng lên báo cáo tình trạng nhân số của từng Khối. Hắn có vẻ mặt gian xảo, nham hiềm. Hai gò má hắn hóp sâu vào khiến lưỡng quyền vốn đã nhô cao lại càng cao hơn. Hàng răng vẩu và hai hố mắt sâu hoắm khiến nhìn như một cái đầu lâu khô khốc gắn trên bộ xương khẳng khiu. Khi các Khối trưởng đã báo cáo nhân số xong, hắn giơ tay chỉ trỏ về phía sân bóng chuyền rồi nói điều gì đó với các Khối trưởng; rồi y quay lưng bỏ đi về phía mấy tên vệ binh. Các Khối trưởng 17, 18, 19, 20 và 21 tất tả trở về Khối mình... Mọi diễn biến đều được anh em theo dõi một cách chăm chú. Ai cũng xầm xì bàn tán về biến cố mới xảy ra. Ai cũng đoán rằng "chắc có người vượt trại nên bọn cai tù mới hốt hoảng điểm danh đột xuất toàn trại giữa trưa nắng gắt như vậy.&lt;br /&gt;Mọi người đều có chung một thắc mắc không biết người trốn trại là ai, thuộc khối nào, Đội nào...dù không biết là ai, quen hay không, hầu như trong thâm tâm mọi người đều thầm mong bạn mình đi thoát. Ở tù chung với nhau nhiều năm, dù trong cuộc sống hàng ngày có những khi bị va chạm, bất đồng, cãi vã...nhưng khi nghe tin có người vượt ngục, ai cũng cầu mong cho họ đi thoát vì nếu để bọn cộng sản bắt được thì sự hành hạ, đánh đập sẽ tàn nhẫn, dã man không sao kể xiết. Tiếng bàn tán xôn xao; người nào cũng tỏ vẻ thông thạo địa hình, địa vật của khu trại giam... Thì ra người tù nào trong tận cùng sâu thẳm của trí óc cũng có lúc nghĩ đến việc vượt thoát lao tù cộng sản, nên để ý từng chút một nơi giam giữ mình để chờ cơ hội. Từ sau lần vượt ngục thành công một cách dễ dàng ngoài dự tưởng của anh chàng Liên, Trung úy Dù thuộc Khối 20 do tên "ăng ten nặng ký" Phan Cao Quang làm Khối trưởng. Liên đi ngờ ngờ trước mất anh em, giữa ban ngày trong khi đang lao động ở hiện trường trên Bệnh xá. Khi đó toán lao động của Khối 20 vừa đến làm cỏ cho Bệnh xá, tên Vệ binh canh tù cũng vừa ôm súng nấp vào bóng mát hiên nhà để tránh cái nóng như thiêu đốt của trưa hè. Y lơ đãng nhìn trời, nhả khói thuốc lá mơ màng nghĩ ngợi vẩn vơ... quên mất lũ tù đang vung cuốc xẻng dẫy cỏ. Liên đang ngồi nhổ cỏ, đột nhiên đứng dậy, ngó dáo dác chung quanh; xong thản nhiên đi thẳng ra hàng rào trước bao con mắt chứng kiến của bạn bè cùng Tổ. Anh bình tĩnh bước qua hàng rào ra ngoài đường và leo lên một chiếc xe Lam ba bánh vừa trờ tới đúng lúc (không biết do ngẫu nhiên hoặc cố ý?), đi mất dạng. Nhiều người nhìn thấy tận mắt nhưng lặng thinh không lên tiếng, vẫn chăm chú làm việc một cách bình thường; trong lòng người nào cũng cảm thấy khoan khoái vì bạn mình đi thoát. Mãi cả tiếng sau, tên vệ binh lẩm nhẩm đếm người. Y hốt hoảng đếm đi đếm lại hai ba lần mới xác định chắc chấn thiếu mất một tên tù...Báo hại toán lao động trên Bệnh xá bị hành hạ cả tuần lễ để truy cứu xem Liên làm gần anh nào? Tại sao biết mà không báo cáo v.v... Nhưng chẳng ai dại mà nhận làm cạnh Liên nên bọn quản giáo cứ quần thảo suốt ngày này sang ngày khác. Hôm ấy cũng báo động toàn trại như hôm nay.&lt;br /&gt;Khối trưởng Long về đến Khối 21, đứng phổ biến những điều vừa được Hai Đề "quán triệt". Long nói:&lt;br /&gt;- Ngay sau khi giải tán, các anh em phải lên sân bóng chuyên tập họp "đột xuất" toàn trại để nghe Trại trưởng nói chuyện.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;2.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Sân bóng chuyền của Trại T.2 nhộn nhịp hẳn lên vì hàng ngàn tù nhân từ các Đội 1, 2, 3 và 4 đến tập họp. Tiếng các Khối trưởng kiểm điểm nhân số và những tiếng hô "Nghiêm! Nghỉ!" xen lẫn với những tiếng bàn tán của đám cải tạo viên tạo thành một âm thanh hỗn độn như một cái chợ. Tên Thượng úy Hợi, Trại trưởng đang loay hoay thử hệ thống máy vi âm cầm tay chạy pin.&lt;br /&gt;Dáng người thấp lùn của y cộng với vẻ cục mịch càng làm hiện rõ hơn tác phong của một tên "bần cố nông chân chính", giai cấp nòng cốt của Đảng. Hợi há toác cái mồm rộng như miệng cá ngão ra "ngoạm" lấy chiếc micro nhỏ xíu: "A nô! A nô! ở đằng kia có nghe rõ không?" Rồi lại lấy ngón tay gõ cồm cộp vào micro... Một chiếc bục thuyết trình được hai cải tạo viên thuộc Khối 17 khiêng ra để trước Hội trường, ngay trên đường nhựa. Những tên vệ binh ôm súng AK đứng xung quanh gờm gờm nhìn đám tù nhân bằng ánh mắt căm thù như sẵn sàng nã đạn vào họ.&lt;br /&gt;Sau khi các đội đã ổn định trật tự, tên Trại trưởng Hợi tiến đến bục thuyết trình, lại đưa tay gõ gõ vào micro, rồi nói bằng giọng gay gắt:&lt;br /&gt;- Các anh có biết mục đích yêu cầu của buổi tập họp toàn trại hôm nay không?&lt;br /&gt;Lác đác có tiếng trả lời "Không ! " một cách rời rạc của một vài Khối trưởng đứng ở hàng đầu... ở tù đã hơn 3 năm, đã di chuyển đến các trại lưu đây xa xôi, hoang dã nên đám tù cải tạo trở nên lì lợm. Họ không thèm chú ý đến những lời tuyên truyền láo khoét, rỗng tuếch của những tên cán bộ cộng sản ngu dốt đang cố lải nhải mớ lý thuyết cộng sản như một con vẹt lập lại những gì chúng học được một cách vô thức. Đám cải tạo đứng đó nhưng mỗi người thả hồn theo những kỷ niệm riêng tư, nghĩ suy riêng tư, hoặc thường chờ dịp làm ồn ào mất trật tự của buổi nói chuyện hoặc học tập.&lt;br /&gt;Tên Hợi gằn giọng:&lt;br /&gt;- Tên Nguyễn Thanh Thu đâu? Bước ra khỏi hàng?&lt;br /&gt;Hai Đề, quản giáo Đội 4 và mấy tên Vệ binh như những con cọp dữ vồ mồi, hùng hổ phóng tới chỗ Nguyễn Thanh Thu từ vị trí của Khối 17, vừa bước ra khỏi hàng. Bằng  động tác nhanh nhẹn đã được chuẩn bị sẵn; chúng dùng một sợi giây thép trói giật khuỷu tay Thu ra phía sau và hai ngón tay cái thì bị cột ngược về phía trước bụng. Cách trói này khiến nhiều người tù đã bị chết vì giây thép hằn sâu vào cánh tay làm độc. Sự đau đớn khiến các bắp thịt trên mặt anh co giật. Những giọt mồ hôi vã trên khuôn mặt xanh xao của người Điêu Khấc gia tài hoa. Anh cố giẫy duạ; nhưng càng giẫy duạ, sợi giây càng hằn sâu vào da thịt khiến anh đau đớn. Thăng vệ binh đứng gần đó dùng báng súng AK đánh mạnh vào ngực anh:&lt;br /&gt;- Đéo mẹ. Thằng phản động này "đi nên nhà kỷ nuật (7). Mày còn giẫy duạ, ông đánh vỡ mặt.&lt;br /&gt;Mấy tên cai tù xô đẩy anh đi về phía những thùng connex để nhốt tù đặt cạnh dãy nhà vệ binh sát hàng rào Trại T.3, gần cổng ra vào Sự việc xảy ra chớp nhoáng trước mắt đám tù khiến mọi người ngạc nhiên, xôn xao bàn tán; vì ước đoán của mọi người đều sai. . . Điều không thể ngờ là anh chàng Đại úy Nguyễn Thanh Thu hiền lành gần như nhút nhát kia chẳng bao giờ làm điều sai quấy gì trong Trại, trong Đội. Ai cũng biết sự hiền lành một cách gần như nhút&lt;br /&gt;nhát cua Thu, thì làm sao lại có chuyện động trời để bị bắt trước mắt mọi người như một tên chống đối nguy hiểm như vậy. Sân bóng chuyền bỗng ồn ào như cái chợ... Tên Hợi gõ tay vào micro:&lt;br /&gt;- Các Đội giữ trật tự để Trại làm việc.&lt;br /&gt;Y phải gõ đến lần thứ 3 sân bóng mới thực sự trở lại yên lặng.&lt;br /&gt;Thượng úy Hợi cao giọng:&lt;br /&gt;- Tên phản động Nguyễn Thanh Thu sau 3 năm được đảng và nhà nước khoan hồng nhân đạo tha tội chết, tạo điều kiện cho học tập cải tạo để trở thành người lương thiện; đã không biết ăn năn hối lỗi mà vẫn còn ngoan cố tiếp tục chống đối cách mạng. Y vẫn giữ những tư tưởng phản cách mạng, phản nhân dân do bộ máy tuyên truyền của Mỹ Ngụy nhồi nhét trong các trường đào tạo Sĩ quan, để vận động, tuyên truyền, chống phá cách mạng; nói xấu đảng và nhà nước; xuyên tạc công cuộc cách mạng cải tạo xã hội Xã Hội Chủ Nghiã của nhân dân cả nước. Lịch sử vĩ đại của dân tộc ta đã chứng minh rằng với sự lãnh đạo tài tình, sáng tạo của đảng cộng sản, nhân dân ta đã giành được độc lập, tự do từ trong tay các thế lực đế quốc; xây dựng một nước Việt nam Xã Hội Chủ Nghiã nằm trong hệ thống Xã Hội Chủ Nghiã ưu việt trên toàn thế giới. Bánh xe lịch sử cứ thế mà quay tít và quay tít mãi. Nguyễn Thanh Thu đã đi ngược giòng lịch sử thì sẽ bị bánh xe lịch sử ngừng lại nghiền nát rồi sẽ tiếp tục quay tít mãi.. .&lt;br /&gt;Tiếng cười ồ của đám cải tạo chế giễu sự ngu dốt của tên cán bộ cộng sản trước lý luận ngô nghê của y khiến khu sân bóng lại trở nên ồn ào. Thượng úy Hợi lại tưởng y diễn thuyết hay quá khiến đám tù phải ồ lên thán phục; nên nét mặt y càng trở nên vênh váo tự đắc Y thầm nghĩ: ..."Đảng cộng sản Việt Nam quả là tài tình sáng tạo, đã đào tạo y từ một tên nhà quê dốt nát trở thành một diễn giả hùng biện, thao thao thuyết giảng hàng giờ trước hàng ngàn tên sĩ quan ngụy tù cải tạo, mà trong lý lịch tên nào cũng có bằng cấp Tú Tài Một, Tú Tài Hai... thậm chí nhiều tên còn có cả bằng Tú Tài Toàn Phần nữa. Cả đám tù ngụy cứ ngây người ra nghe y rao giảng và còn phải ồ lên thán phục. Càng nghĩ, y càng cảm ơn đảng vô cùng vô tận. Nếu không có đảng, không chừng ngày nay y vẫn còn là tên nông dân nghèo nàn, lạc hậu. ngu dốt, và chậm tiến như cha y ở cái xó xỉnh Phú Thọ ngày nào..."&lt;br /&gt;Hợi cao giọng giảng tiếp:&lt;br /&gt;Sau 3 năm học tập cải tạo, tên phản động Nguyễn Thanh Thu vẫn không chuyển biến tư tưởng, không động não tiếp thu chân lý sáng ngời của Đảng cộng sản Việt Nam. Y vẫn còn luyến tiếc cái quá khứ làm tay sai cho đế quốc Mỹ xâm lược, vẫn mơ ước cuộc đời ôm chân đế quốc và vẫn còn luyến tiếc bức tượng phản động Thương Tiếc. Nguyễn Thanh Thu đã là một cán hộ Chiến Tranh Tâm Lý của Ngụy quân, mang cấp bậc Đại úy. Y đã đúc ra cái pho tượng phản động Thương Tiếc được bộ máy chiến tranh của Ngụy quyền đặt tại Nghiã Trang lính Ngụy ở Biên Hoà làm công cụ vận động binh sĩ Ngụy chống đối cách mạng, ngăn cản bước tiến của nhân dân; làm chậm công cuộc giải phóng đất nước khỏi sự kềm kẹp, bóc lột của Mỹ Ngụy. Các anh nên nhớ là một người dân trong công cuộc kháng chiến giải phóng đất nước của đảng, nếu chỉ đứng ngoài nhìn cũng đã là có tội với đảng huống chi các anh là những kẻ trực tiếp ngăn chặn bánh xe lịch sử thì tội của các anh còn nặng gấp ngàn tấn... Cho các anh biết. hiện nay ta đã kẻo đổ pho tượng phản động Thương Tiếc xuống ruộng để mất tàn tích văn hóa đồi trụy của bọn tay sai. Ngày hôm nay trại đã phát hiện tên Nguyễn Thanh Thu lén lút giấu 2 lá thư phản cách mạng trong 2 bức tranh vẽ Vợ 1 và Vợ 2, gửi tên Thượng sĩ Ngôn thuộc Đội 2 vừa được cách mạng khoan hồng cho ra trại đoàn tụ với gia đình, mang về cho vợ tên Thu. Cả hai tên Ngôn và Thu đều đã vi phạm nội quy của Trại Cải Tạo, vi phạm vào pháp chế Xã Hội Chủ Nghiã đều sẽ bị trừng trị một cách thích đáng. Riêng Nguyễn Thanh Thu thì mức độ vi phạm trầm trọng hơn, nó mang tính chất phản cách mạng cao độ, chống đối đảng và nhà nước, chống đối nhân dân... Vì vậy Trại quyết định phạt giam Nguyễn Thanh Thu vào nhà kỷ luật vô hạn định và kéo dài thời gian cải tạo..."&lt;br /&gt;Tên Trại trưởng ngừng nói, đưa mất nhìn khấp lượt lũ tù nhân như ngầm đe doạ: "Chúng bay coi chừng! Thằng nào chống đối đảng sẽ được hưởng biện pháp chế tài như Nguyễn Thanh Thư' . Những người ta cải tạo lặng lẽ đưa mát nhìn nhau như ngầm chia sẻ nỗi tủi nhục của kiếp bại binh trong tay quân thù tiểu nhân, hiểm ác. Cộng sản lúc nào cũng rêu rao cho ràng những người cải tạo được "may mắn sống trong vòng rào đạo lý của cách mạng để được đảng khoan hồng, giáo dục thành người lương thiện".&lt;br /&gt;Cộng sản sau khi chiếm trọn miên Nam đã tự nhận cái chân lý của kẻ thắng để đẩy đối phương của mình sang phải bất nhân, bất nghĩa; gán cho họ đủ mọi thứ tội trạng ghê gớm chỉ có trong đầu óc tưởng tượng bệnh hoạn của những kẻ mang mặc cảm dốt nát .&lt;br /&gt;Sống trong bốn vòng rào đạo lý ấy, người cải tạo bị kẻ chiến thắng đầy đoạ trong tủi nhục hằng hằng; cộng sản muốn họ bị hoá thú trong những lao tù mà điều kiện sống không khác gì thời trung cổ; vì vậy ánh mất ngầm đe doạ của tên Trại trưởng Hợi chỉ là chuyện không đáng kể. Một bầu không khí ngột ngạt, khó thở bao trùm khu sân bóng chuyền. Mọi người lặng im như để chia sẻ nỗi nhục nhằn của bạn mình, vì ai cũng biết rằng một khi Nguyễn Thanh Thu rơi vào tay bọn vệ binh cuồng tín cộng sản, anh sẽ phải hứng chịu những trận đòn thù man rợ nhất và đê tiện nhất như nhiều anh em trước đó đã bị. Bây giờ thì ai nấy đều biết rõ lý do của buổi tập họp đột xuất toàn trại này. Cũng chỉ vì sự độc tài khát máu của cộng sản khi trả thù đối phương bằng cách đầy ải những Quân nhân, Công chức, Cảnh sát và Cán bộ Xây Dựng Nông Thôn của VNCH trong những trại biến hình cải tạo. Họ cố tình cô lập người tù bằng cách cắt đứt mọi liên hệ tình cảm với thân nhân nên người tù phải lén lút viết thư "chui" (8) cho gia đình bằng mọi cách. Hầu như người cải tạo nào cũng có ít nhất một lần gửi thư chui cho gia đình bàng cách này hay cách khác, dưới mọi hình thức. Họ gửi với mục đích cho gia đình biết tình trạng mình còn sống, hiện đang bị giam ở đâu và tìm để cho gia đình biết khi có dịp lên thăm nuôi thì mang những loại thuốc cần thiết v.v:.. Sự việc Nguyễn Thanh Thu gửi thư chui nhờ Ngôn mang về cho thân nhân là một chuyện rất bình thường đối với cái nhìn nhân bản của con người; nhưng đối với cộng sản, họ nâng lên hàng quan điểm và khép thành tội tày trời để dựa vào đó mà hành hạ trả thù người ta. Dưới xã hội cộng sản, con người không còn phải là con người nữa, họ trở thành một thứ ngưạ bị che hai mắt để chỉ nói, nghĩ, làm như cộng sản muốn... Nguyễn Thanh Thu trong những năm tháng dài tù đày, đã gói ghém tình cảm của mình trong những bức tranh hoạ hình thân nhân mà anh phải cặm cụi nhiều ngày để vẽ và nhờ người bạn được trả tự do mang về giúp. Anh đã quá ỷ y khi viết mấy giòng thư cho vợ, trong đó có nhắc đến bức tượng Thương Tiếc, như tiếc nuối đau đớn một công trình nghệ thuật tim óc của mình. Có lẽ vì quá cảm xúc khi nghĩ đến tác phẩm nghệ thuật giá trị Thương Tiếc, Thu đã có nhiều đoạn thư tỏ vẻ oán trách chế độ xã hội chủ nghĩa là nguyên nhân chính đưa đất nước xuống đáy vực thẳm, khiến nhân dân cả nước chịu nhiều khổ đau...Thu đã quá sơ ý khi không cho Ngôn biết giữa hai tấm hình vẽ có lá thư chui; nên Ngôn cũng không cất giấu cẩn thận. Khi bị khám xét trước khi ra cổng trại tù, Ngôn đã thản nhiên để hai tấm tranh cuộn tròn trước cặp mắt cú vọ của tên cán bộ phụ trách nghiệp vụ (9). Dĩ nhiên khi y mở cuộn giấy, lá thư đã rơi ra...&lt;br /&gt;Trại trưởng Hợi sau khi lên lớp đám tù về nội quy và tiêu chuẩn học tập cải tạo để được tiến bộ ngõ hầu được thả về với gia đình, đã ra lệnh cho mọi người giải tán. Khu sân bóng ồn lên như cái chợ. Anh em cải tạo tụ tập thành từng nhóm 4, 5 người bàn tán xôn xao. Vũ tách khỏi đám đông, lững thững đi về phía chuồng heo sau Đội 3.&lt;br /&gt;Anh cảm thấy mệt mỏi, buồn bã. Đầu óc mênh mang nghĩ suy. Anh cảm thấy uất nghẹn trong cổ, đau nhói trong lồng ngực buốt. Cái cảm giác hệt như lần chuyển trại từ Long Giao về Hốc Môn vài tháng trước đây. Khi đoàn xe Molotova chở tù đi ngang Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hoà, Vũ đã cảm thấy đau nhói trong lồng ngực, nỗi uất nghẹn dâng lên làm anh muốn ngộp thở khi nhìn thấy pho tượng Thương Tiếc bị cộng sản kẻo đổ nằm lỏng chỏng dưới đám ruộng ở chân đồi. Anh có cảm giác đau đớn, nhói buốt và tự dưng hai giòng nước mắt ứa ra. Nỗi buồn dã dượi phủ lên thân xác anh khiến anh mệt rũ người. Pho tượng Thương Tiếc đã trở thành một hình ảnh quen thuộc, gắn bó với những chiến sĩ thuộc mọi Quân Binh Chủng VNCH. Nó là biểu tượng cho sự quả cảm, tinh thần chiến đấu anh dũng, sức chịu đựng và sự hy sinh của người quân nhân phục vụ đất nước mà không nghĩ đến thân mình. Nó không còn mang sắc thái cá biệt của từng đơn vị, từng binh chủng nữa... Cho dù anh có là Biệt Động Quân, Thủy Quân&lt;br /&gt;Lục Chiến, Biệt Cách Dù, Nhẩy Dù hay Không Quân, Hải Quân, Bộ Binh, Thiết Giáp, Pháo Binh. Công Binh, Quân Cụ, Quân Nhu... v.v... và v.v... cũng chẳng có gì khác biệt; có chăng chỉ là màu áo, tấm huy hiệu đơn vị... Tất cả chúng ta cùng đứng chung dưới mái ấm của đại gia đình quân đội, cùng chung một Mẹ Việt Nam và chung một nhiệm vụ bảo vệ tổ quốc... Quả thật không còn chỗ đứng cho những người như anh, cho dù cả ào người đã chết. Cái đau xót là ở chỗ đó. Không có chỗ dung thân cho ào người bị cộng sản gọi là Ngụy Quân, Ngụy Quyền trên ngay chính quê hương của hội Cộng sản hèn mọn ở chỗ không chỉ trả thù người sống mà ngay cả những người đã chết chúng cũng không tha. Chúng đã cho đào mồ cuốc mả những chiến sĩ VNCH đã hy sinh gìn giữ mảnh đất miên Nam trước sự xâm lược của cộng sản Bắc Việt và vẫn cử binh lính VC canh giữ nghiêm nhặt các khu Nghĩa trang Quân Đội VNCH như một hình thức cầm tù người đã chết; không cho thân nhân thăm viếng, tu  bổ dọn dẹp, cúng lễ các mộ chí hoặc bốc mộ các tử sĩ về chôn ở quê hương bản quán... Buổi tối, lúc tập họp điểm danh thường ngày, Đỗ Đăng Hanh (l0) thì thầm vào tai Vũ:&lt;br /&gt;- Hồi nãy toán nhà bếp mang phần ăn cho Nguyễn Thanh Thu đã bị bọn vệ binh đuổi về. Như vậy tối nay ông ấy chịu sao nổi !!&lt;br /&gt;Những câu nói của Hanh khiến Vũ lùng bùng trong đầu. Anh có cảm tưởng như cả thân mình nổi gai ốc... "Như vậy ông ấy chịu sao nổi!! Như vậy ông ấy chịu sao nổi!...." Bọn vệ binh Việt cộng dã man ở chỗ chúng bất tù nhân nhịn đói để không đủ sức chịu đựng; rồi sau đó mới dùng cực hình đánh đập, tra tấn. Vũ lo âu cho người bạn tù Nguyễn Thanh Thu sẽ phải chịu những nhục nhằn khổ ải như các trường hợp của các bạn tù khác ở các Trại Vũ đã đi qua. Gió khẽ lay động vào cành cây điệp xao xác trên cao. Bầu trời không một vì sao, thăm thẳm màu đen u tối. U tối như cuộc đời của ào người chiến sĩ can trường của Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà bị sa cơ thất thế trong lao tù cộng sản, không thấy tương lai.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;3.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Buổi tối, sau khi điểm danh xong, Vũ kẻo Hanh và Trần Văn Hưng (11) ra một góc vắng. Hanh là một sĩ quan trẻ tuổi thuộc Sư Đoàn 21 Bộ Binh, độc thân, gan dạ, liều lĩnh; Trần Văn Hưng là một sĩ quan An Ninh Quân Đội thuộc Tiểu khu Bình Long. Ba người thường tâm sự với nhau vì cùng có những suy nghĩ giống nhau về cộng sản, cùng thù ghét cộng sản giống nhau nên chơi rất thân với nhau. Hai người bạn kia đều nhỏ tuổi hơn Vũ, nên trong đối xử, họ vẫn coi chàng như một người anh. Ba người lẩn trong bóng tối, mắt trước mắt sau thì thào bàn tán. Vũ nói:&lt;br /&gt;- Ê Hanh! Mình còn chút gì ăn được không?&lt;br /&gt;- Còn. Nhưng có chuyện phải dùng rồi. Hanh nói.&lt;br /&gt;- Nhớ gói theo một ít thuốc trụ sinh, thuốc bổ và thuốc tiêu chảy. Hưng nói.&lt;br /&gt;Cả ba cùng cười. Dù chưa nói với nhau về ý định thầm kín của mình, nhưng ba người bạn đã có chung một suy nghĩ, một dự tính. Chỉ có sự thân thiết, đồng tâm mới hiểu nhau như vậy.&lt;br /&gt;Hanh sôi nổi nói:&lt;br /&gt;- Lát nữa Hưng chuẩn bị mấy thứ vừa nói, gói kỹ trong bao nylon. Khuya nay tôi sẽ hành động.&lt;br /&gt;- Làm sao mang đến chỗ nhốt ông Thu? Hưng băn khoăn.&lt;br /&gt;- Tôi sẽ bò dọc con mương từ Khối mình chạy ngang qua khu nhà Vệ binh để tiếp tế cho tù trong nhà kỷ luật. Nhớ gửi cho Thu một bi đông nước. Hanh đã từng bị giam trong thùng connex này gần một tuần lễ nên có nhiều kinh nghiệm máu và nước mắt .(12)&lt;br /&gt;Bóng đêm phủ kín khu trại giam T2 một màu đen thăm thẳm. ánh đèn điện vàng vọt hắt ra từ những căn nhà chứa tù cũng không xua tan được cái bóng tối âm u của khu Thành ông Năm Hốc Môn. Vũ, Hanh và Hưng đứng nói chuyện vu vơ trong bóng tối nhoè nhoẹt ấy cho đến khi kẻng báo hiệu giờ ngủ mới kéo nhau về phòng giam. Gió vi vu lạnh, sương xuống ướt vai áo. Vũ khẽ rung mình, anh bảo hai bạn:&lt;br /&gt;- Thôi về chuẩn bị các thứ là vừa. Kẻng ngủ đã gõ rồi, bọn "cá sấu (13) sắp đi tuần, để chúng bắt được thì hỏng chuyện.&lt;br /&gt;Ba người bước qua tấm vỉ sắt bắc ngang con mương để vào Khối 21. Anh em trong Khối đã buông mùng. Tiếng nói chuyện rì rầm về những kỷ niệm cực nhọc trong lao tù vẫn lao xao ở từng góc nhà hoà lẫn với tiếng ngáy của một vài anh em ngủ sớm và tiếng thở dài trăn trở của những anh em khó ngủ vì hay lo lắng, nghĩ ngợi... tạo thành một thứ thanh âm hỗn độn. Hơn 50 người bị nhét như cá mòi trong một căn phòng chật hẹp nên mùi hơi người xông lên nồng nặc. Huỳnh Quang Trung (14) có nhiệm vụ gác ca đầu cũng đã chuẩn bị ghế ra ngồi giữa cửa ra vào của Khối 21 .&lt;br /&gt;Từ sau ngày nhóm Lầu Lý Phốc, Trung úy thuộc Liên Đoàn 81 Biệt Cách Dù vượt ngục (15), bọn Việt cộng đã bày ra cái trò bắt tù canh gác tù vào ban đêm sau khi có kẻng ngủ lúc 9 giờ đêm cho đến khi có kẻng báo thức lúc 6 giờ sáng. Trước khi chui vào mùng, Hanh ghé tai Vũ dặn nhỏ: "Nhớ đánh thức tôi đậy khoảng 2 đến 3 giờ sáng nhé!"...&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;4&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tiếng rên khe khẽ vọng lại từ phía nhà Vệ Binh khiến Vũ choàng tỉnh Anh chồm người ra ngoài phòng nghe ngóng. Tiếng rên theo từng cơn gió thoảng chập chờn trong đêm vắng, len vào từng dãy nhà giam nghe thảm thương một cách khó tả. Vũ đang định lồm cồm chui ra thì có tiếng của Hanh khiến anh giật mình: "Ông có biết tiếng ai rên không?"&lt;br /&gt;- Không! Nhưng dường như phát ra từ phía nhà kỷ luật. Vũ khẽ nói.&lt;br /&gt;Hanh thì thào:&lt;br /&gt;- Bây giờ tôi với ông ra ngoài xem. Ông canh chừng ở gốc dưa tây; tôi đi dò thám thử xem sao. Tôi nghĩ đúng là tiếng rên của ông Thu.&lt;br /&gt;Vũ khẽ thở dài thì thào:&lt;br /&gt;- Chắc chắn là tiếng rên của Nguyễn Thanh Thu rồi. Tội nghiệp cho anh chàng quá.&lt;br /&gt;Vũ và Hanh rón rén đi ra khỏi Khối 21 bằng cửa sau, lối đi ra mấy luống rau muống và cầu tiêu; nép mình trong bóng đêm nghe ngóng. Vũ còn cẩn thận ngó lại xem ai đang canh gác giờ này; anh an tâm khi thấy Quân Trố (16) đang gác. Ở trong chỗ hỗn tạp này cần phải cẩn thận vì mặc dù đa số anh em tù đều giữ vững tinh thần đấu tranh chống cộng và lập trường quốc gia vững mạnh nhưng vẫn có một vài bạn yếu hèn làm ăng ten cho cán bộ Việt cộng sẵn sàng đạp lên xác chết anh em đồng cảnh ngộ để mong được Việt cộng thả về. Quân thì Vũ tin được vì là bạn đánh mạt chược với anh từ nhiều năm qua và đã hiểu lập trường của nhau.&lt;br /&gt;Gió lao xao lay động ào cành cây điệp, ào lá dưa tây trên cao. Hanh nói đủ cho Vũ nghe:&lt;br /&gt;- Ông nấp ở gốc dưa tây canh chừng. Tôi thử bò dọc con mương xem sao. Nếu thấy "bia lên" (17) thì làm tiếng mèo kêu cho tôi biết.&lt;br /&gt;Nói xong Hanh băng mình vào đêm tối. Anh bò theo con mương đã cạn khô vì nắng hè, dọc đường lộ phía trước Khối 21. Mồ hôi ướt đẫm lưng áo. Đất khô ran như những cục đá cọ xát vào khuỷu tay khiến anh có cảm giác tê rát, đau đớn; nhưng Hanh nghĩ cái đau của anh còn êm ái hơn cái đau đớn mà Nguyễn Thanh Thu đang phải chịu đựng. Nghĩ đến bạn, lòng anh nhói buốt, tự nhiên quên hết cả đau.&lt;br /&gt;Hanh đã bò đến gần khu vực nhà ở của Vệ binh, anh nhìn thấy lờ mờ trong ánh sáng nhoè nhoẹt hắt ra từ khe cửa của khu nhà vệ binh, các tên lính Việt cộng với những khẩu AK.47 đang đánh đập một khối đen như rũ xuống ở gốc cây điệp cạnh nhà ở của chúng. Mỗi báng súng nện xuống, từ chỗ ấy lại phát ra tiếng rên khe khẽ.&lt;br /&gt;Dường như nạn nhân không còn hơi sức để rên. Dường như cả khối thịt bèo nhèo kia chỉ còn là một cái xác thoi thóp, không đủ sức để quằn quại, chống đỡ những cú báng súng đánh vào ngực, vào bụng... Anh rũ xuống, người như lạc vào cơn đồng thiếp và ngất đi Hanh nằm dưới đường mương, trong bóng đêm dày đặc. Lòng anh nhói đau, mặt anh nóng bừng và suốt dọc sống lưng như có muôn ngàn mũi kim nhọn đâm vào khiến anh nhói buốt. Hanh cố nuốt căm hận, cố dằn những xúc cảm đang dâng trào. Anh tự dưng thấy mình hèn hạ và nhút nhát quá khi nhìn thấy kẻ thù hành hạ đồng đội mà không dám làm gì. Nhiều lúc anh muốn phóng lên khỏi con mương, nhào lại đám vệ binh... rồi muốn ra sao cũng được.&lt;br /&gt;Nhưng cho dù Hanh có xông ra cũng chẳng giúp ích gì cho bạn mình mà chỉ làm mồi cho bọn giặc cộng cuồng tín kia xúm vào cắn xé như con thú rừng đói khát máu tươi lâu ngày; anh cắn chặt hai hàm răng, nuốt hận thù nhìn bạn mình bị địch quân hành hạ.&lt;br /&gt;Tự dưng anh thấy mát mình ướt nhẹp. Có tiếng của một tên vệ binh nói:&lt;br /&gt;- Đéo mẹ. Thằng phản động ngất đi rồi. Đừng có vờ vịt, mày muốn Thương Tiếc, ông cho nếm mùi Thương Tiếc. Nói xong hắn thúc thêm mấy báng súng nữa vào người Nguyễn Thanh Thu. Khi thấy anh chỉ còn mềm nhũn như mớ giẻ rách, người gập xuống, tóc loà xoà trên mặt, dính bê bết máu khô quánh; hắn quay sang nói với đồng bọn:&lt;br /&gt;- Lôi cổ nó vào "nhà ghi" (18) đi tụi mày!&lt;br /&gt;Bọn chúng cời giây trói cho Thu, nắm tóc anh lôi xềnh xệch dưới đất, liệng vào thùng connex và dùng một sợi xích sắt khóa chặt cánh cửa sắt của thùng connex. Bọn vệ binh kéo nhau vào nhà, nói chuyện với nhau ồn ào một lúc lâu rồi im bặt. . .&lt;br /&gt;Hanh lồm cồm định bò ngang con đường nhựa để sang bên khu nhà vệ binh, đến bên thùng connex xem Thu ra sao. Vừa trườn mình lên đường mương, Hanh chợt nghe tiếng dép Bình Trị Thiên lệt xệt kéo lê trên đường, lại vội vàng thụp người xuống, dán sát mình vào con mương cạn, ngay miệng cống thông qua con đường nhựa mà bọn vệ binh thường đi qua lại để ra mấy vọng gác ngoài hàng rào.&lt;br /&gt;Thằng vệ binh vác ngược khẩu AK trên vai, vừa đi, vừa ngoác cái mồm cá ngão ra hát một bản nhạc vàng của Sài gòn mà trước đây ca sĩ Thanh Tuyền thường hay hát. Giọng khàn khàn vịt đực ngọng nghịu miền Hải Phòng của hắn khiến bài hát trở nên lố bịch, trơ trẽn: "Mỗi lăm đến hè nòng mang mác buồn..." (19). Nếu ông nhạc sĩ sáng tác bản nhạc mà nghe được cái giọng quái đản của hắn lúc này chắc phải chối bỏ tác phẩm của mình. Hắn đi ngang qua chỗ Hanh nằm sát lòng con mương tối tăm mà không ngờ là có một tên Ngụy tù cải tạo đang nằm dưới đó. Khi đi ngang thùng connex, hắn cúi xuống nhặt một hòn đá to, ném thật mạnh vào thùng sắt. Một tiếng ầm lớn vang lên giữa đêm khuya khiến lũ vệ binh trong nhà lầu bầu chửi thề:&lt;br /&gt;- Đéo mẹ! Thằng "lào" đấy? Ông lại đẹt cho một phát bây giờ.&lt;br /&gt;- Bố mày đấy. Thằng vệ binh vừa về đến nói. Thằng nào đến phiên đổi ca gác không chịu ra thay cho bố?&lt;br /&gt;Lũ vệ binh lại ồn ào nói chuyện, chúng kể cho tên vệ bình mới đến nghe chuyện đánh đập Nguyễn Thanh Thu như một thành tích lẫy lừng, một chiến công hiển hách mà chúng vừa đánh gục một người bị trói vào gốc cây. Thằng nào cũng tranh nhau nói, tranh nhau kể ồn ào mãi. ..&lt;br /&gt;Hanh biết không thề liều lĩnh bò đến gần chiếc thùng connex trong đêm nay. Lớ ngớ có thể ăn cả băng đạn AK vào người. Anh bò ngược về Khối 21. Bò được nửa được nửa đường thì gặp Vũ cũng đang nằm dưới đường mương. Hai thằng kéo nhau về lòng buồn dã dượi.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;5.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Một buổi sáng tháng 7 năm 1978, đoàn xe Molotova bít bùng nối đuôi nhau tiến vào Trại Hốc Môn, chúng túa vào các trại, đậu dưới mấy gốc cây bã đậu lớn. Các tên tài xế mặt mũi nhếch nhác, nhễ nhại mồ hôi; nhảy khỏi buồng lái, cởi phanh ngực áo, dùng chiếc nón cối quạt phành phạch. Những tên vệ binh tháp tùng xe lăm lăm khẩu AK, mặt tên nào cũng đầy sát khí. Trong khi đó ở các trại, tiếng kẻng tập họp đột xuất vang lên inh ỏi... Tiếng chân chạy rầm rập trên đường, tiếng điểm số một, hai, ba, bốn... của đám tù cải tạo, cộng với tiếng hô nghiêm, nghỉ khiến tình hình có vẻ căng thẳng. Những tên quản giáo trông coi các Đội, tay cầm danh sách tù nhân, tất tưởi chạy lên, chạy xuống một cách vội vã.&lt;br /&gt;Ai cũng đoán biết đây là đợt chuyển. trại, một công việc thường xảy ra trong nhà giam của cộng sản. Danh sách những người bị chuyển trại được đọc, những người có tên trong "danh sách học tập cải tạo tốt được chuyển đến nơi mới tạo điều kiện học tập tốt hơn thì sẽ được thả...", theo như cán bộ Trại phó biến như vậy; nhưng mọi người thừa hiểu mánh khoé bịp bợm láo khoét của cộng sản để trấn an người tù bị chuyền trại mà thôi, vì cứ nhìn vào thành phần bị gọi tên chuyển trại người ta thấy ngay tuần thuộc thành phần mà đảng gọi là "có nhiều nợ máu với nhân dân" thì biết là sẽ bị chuyển đi những nơi khắc nghiệt hơn. Ai nấy cũng tất tưởi chạy về chuẩn bị gom góp đồ đạc. Đồ đạc của tù thì chỉ có vài manh áo rách, mấy cái lon Guigoz vậy mà cũng chất cả một cái "sac de marin" (19). Cuộc chia tay nào trên cõi đời này cũng đầy những bịn rịn, quyến luyến và buồn thảm. Nhất là kiếp tù đầy, cùng chung số phận của kẻ bại binh trong tủi nhục hằng hằng, dưới đáy địa ngục đỏ; nên cái tình thân trong tù nó còn thắm thiết hơn, sâu đậm hơn bất cứ thứ tình nào trên cõi đời này. Những cái bắt tay từ giã giữa những kẻ cùng cảnh ngộ dù không ướt sũng nước mắt nhưng đầy luyến lưu trong khi lòng thì ngập hận thù lũ cộng phỉ phi nhân. Những người có tên trong đợt chuyển trại kỳ này đều đa số thuộc ngành An Ninh, Tình Báo,  Chiến Tranh Chính Trị và Quân Cảnh như: Huỳnh Quang Trung, Võ Quý Hy, Hùng Rè, Huỳnh Thành Vị, Nguyễn Văn Minh ... cùng các bà Nữ quân nhân như Đại tá Hương, Trung tá Vẽ, Thiếu tá Phượng v.v... Khi toán chuyển trại đã được dồn lên các xe Molotova, bọn vệ binh áp tải Nguyễn Thanh Thu từ trại T.2 và Võ Văn Tưng từ Trại T.4 lên chiếc xe cuối cùng. Họ vẫn bị còng tay, người gầy guộc với lớp da mỏng dính bám trên từng lóng xương khẳng khiu, bước những bước đi chệnh choạng như người say rượu vì bị cùm lâu ngày trong connex. Chỉ có vài tuần lễ mà người nào trông cũng già đi hàng chục tuổi... Trước khi leo lên xe, Nguyễn Thanh Thu đưa mắt nhìn vào trong trại như có ý từ biệt anh em, mặt sũng buồn. Vũ đứng lặng bên hàng rào kẽm gai nhìn theo đoàn xe nối đuôi nhau cuốn bụi mù mịt, chạy ra phía cổng lớn của Thành Ông Năm. Anh cảm thấy như mất mát từng phần của cơ thể. Lòng buồn day dứt. (20)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;VŨ UYÊN GIANG&lt;/strong&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt; &lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;Ghi chú:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;(1) Tôle: VC thường gọi là tô ne&lt;br /&gt;(2) Phan Bình Định: Trung úy Khoá 2 CTCT Đá Lạt. Đại đội phó Biệt Động Quân.&lt;br /&gt;(3) Vũ Quang Phục: Trung úy Hải quân phục vụ tại Bộ Tư Lệnh HQ Saìgòn. ông Phục là một trường hợp hi hữu vì đơn vị tại Sàigòn, nhưng lại bị VC bắt làm tù binh ở Mộc Hoá năm 1971; nhưng ông không được chúng trao trả tù binh năm 1973. Bị giam nhiều năm ở Kampuchea, sau đó chuyền ra Bắc... Sau năm 1975, được chuyển về Trại Cải tạo Long Giao...&lt;br /&gt;(4) Nguyễn Văn Long: Trung úy phụ trách một đơn vị Phòng Không trú đóng tại Phú Lâm. Hiện Long đang định cư tại Nam Califomia.&lt;br /&gt;(5) Giao ban: từ của VC. Phiên họp hàng ngày để báo cáo tình hình nhân số và nhận các chỉ thị từ Ban Chỉ Huy Trại.&lt;br /&gt;(6) Quản người khang chặt: từ của VC. Không giữ người kỹ càng. Quản lý người không chặt chẽ.&lt;br /&gt;(7) "đi nên nhà kỷ nuật" : đi lên nhà kỷ luật.&lt;br /&gt;(8) thư chui: thư gởi lén về cho gia đình&lt;br /&gt;(9) Nghiệp vụ: ngành chuyên môn (ở trong truyện là cán bộ an ninh)&lt;br /&gt;(l0) Đỗ Đăng Hanh: Trung úy Sư đoàn 21 Bộ binh. Một sĩ quan trẻ tuổi gan dạ và quả cảm. Ngay sau khi có lệnh của Dương Văn Minh đầu hàng địch quân, Hanh vẫn tiếp tục chỉ huy binh sĩ dưới quyền chiến đấu cho đến khi bị bắt. Trong tù, khi bị VC hỏi là anh đã giết bao nhiêu chiến sĩ cách mạng, Hanh hiên ngang trả lời: "Tôi đã tiêu diệt hàng ngàn tên VC nên đâu nhớ nồi chính xác là bao nhiêu?" Chức vụ cuối cùng của Hanh trước ngày 30-4-75 là Tiểu đoàn phó.&lt;br /&gt;(11) Trần Văn Hưng: Trung úy thuộc Ty An Ninh Quân Đội Bình Long. Hưng là em ruột của Chuẩn tướng Trần Văn Nhựt&lt;br /&gt;(12) Hanh bị nhốt một tuần lễ trong connex vì đánh mạt chược&lt;br /&gt;(13) cá sấu: tiếng lóng trong tù gọi bọn cộng sản, gọi tắt từ chữ CS. Đôi khi anh em còn gọi là "cọc sắt bệnh viện" từ chữ CSBV - cộng sản Bắc việt.&lt;br /&gt;(14) Huỳnh Quang Trung: Trung úy Sĩ quan Quân báo thuộc Tiểu khu Kiên Giang. Trung hiện cư ngụ tại San Jose, Califomia.&lt;br /&gt;(15) Lầu Lý Phốc: Trung úy Sĩ quan thuộc Liên đoàn 81 Biệt Cách Dù. Anh cùng 2 người nữa vượt ngục ở Hốc Môn. Khoảng 1 tháng sau thì bị bắt ở đất Miên.&lt;br /&gt;(16) Quân Trố: Hoạ sĩ Nguyễn Minh Quân, Trung úy thuộc Tiều đoàn 50 CTCT. Hiện Quân đang cư ngụ tại Chicago, Illinois. Nguyễn Minh Quân đã qua đời ở Chicago năm 2008 khi vừa tròn 60 tuổi&lt;br /&gt;(17) bia lên: ngày xưa tấm bia để tập bấn tại các quân trường là mặt tên VC. Vì vậy khi kêu bia lên có ý nói có VC đến.&lt;br /&gt;(18) nhà ghi: thùng connex bằng sắt để chuyên chở hàng. VC dùng để nhốt tù&lt;br /&gt;(19) sac de marin (tiếng Pháp): túi đựng quân trang của lính&lt;br /&gt;(20) Nguyễn Thanh Thu đã sang Hoa kỳ định cư ở Nam California và hiện nay đã trở về sống ở Quận Phú Nhuận, Saigon&lt;br /&gt; &lt;/div&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/9009333266934427487-4406301820969008468?l=trenduongbiengioi.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://trenduongbiengioi.blogspot.com/feeds/4406301820969008468/comments/default' title='Post Comments'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://trenduongbiengioi.blogspot.com/2009/10/thuong-tiec.html#comment-form' title='0 Comments'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/9009333266934427487/posts/default/4406301820969008468'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/9009333266934427487/posts/default/4406301820969008468'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://trenduongbiengioi.blogspot.com/2009/10/thuong-tiec.html' title='THƯƠNG TIẾC'/><author><name>Vũ Uyên Giang</name><uri>http://www.blogger.com/profile/14317469376846546930</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='27' height='32' src='http://4.bp.blogspot.com/_a9tmOxlA1Y8/SurV9bfSPWI/AAAAAAAAAAU/3GQa-eia6Kw/S220/vinh1.jpg'/></author><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-9009333266934427487.post-952059360184425329</id><published>2009-10-30T05:34:00.000-07:00</published><updated>2009-10-30T05:38:28.813-07:00</updated><title type='text'>MÓN QUÀ CUỐI NĂM</title><content type='html'>&lt;div align="justify"&gt;&lt;span style="font-size:130%;color:#000066;"&gt;&lt;strong&gt;MÓN QUÀ CUỐI NĂM&lt;/strong&gt;&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Vũ nhặt mấy cục than quả bàng nhỏ bằng đầu ngón tay cái bỏ vào chiếc lò làm bằng thùng tôn đựng nước. Đây là tác phẩm vĩ đại của Nguyễn Ngọc Cán, Chuẩn úy Trưởng Ban 2 Chi Khu ở Tỉnh Kiên Giang (1). Để chuẩn bị nấu nướng trong dịp Tết, Cán đã hì hục mất mấy ngày gò cái lò tôn và nắn những cục than quả bàng đem phơi khô trên mái nhà. Tiếng than nó tí tách và những hoa lửa bay ngoằn ngoèo trong không gian như pháo bông trông thật vui mát, khiến Vũ quay quắt nhớ ào đêm thức canh nấu bánh chưng khi còn trai treo ở dưới mái ấm gia đình. ánh đèn điện vàng vọt hát ra từ những dãy nhà tôn của Trại K.1 Suối Máu (Biên Hòa) không đủ soi sáng cái bóng đêm dày đặc của tối ba mươi.&lt;br /&gt;Chung quanh chỗ Vũ, từng ánh lửa bập bùng tỏa ra từ những chiếc lò con kê dọc hai bên hiên nhà và từng nhóm người lui cui nấu nướng, bóng họ hất nhòe nhoẹt trên vách như những người không tô, đen đúa. Cảnh tượng náo nhiệt y như là một cái chợ đêm ở ngoài Bắc trong thời kỳ tản cư, mà thuở ấu thời anh đã trải qua, bây giờ vẫn còn hạn sâu trong trí nhớ. Tiếng nói cười vang cả một góc sân.&lt;br /&gt;Chỉ còn mấy tiếng đồng hồ phù du nữa là bước sang năm mới, năm Kỷ Mùi 1979, cũng là cái Tết thứ tư của các Quân Nhân Công Chức, Cán bộ XDNT, Cảnh Sát Quốc Gia VNCH trong lao tù cộng sản Hầu hết anh em đều đã được gia đình lên thăm nuôi, tiếp tế vào những ngày giáp Tết; mang vào cho họ những bao quà nặng trĩu ân nghĩa của gia đình mà những bà mẹ, những người vợ, người chị, người em đã nhịn ăn, nhịn mặc chắt chiu gói ghém mang lên nuôi người tù bất hạnh trong đáy sâu địa ngục đỏ. Phải nói rằng tình thương của gia đình những người tù cải tạo thật là to lớn vô bờ vì dưới chế độ hà khắc của cộng sản, mọi người đều thiếu ăn, thiếu mặc như nhau; mọi người đều bị kiểm soát cái bao tử chặt chẽ giống nhau, nhưng họ vẫn dành dụm, chắt chiu mang lên thăm nuôi tù, hòng an ủi kẻ bại binh không bị cô đơn trong mặc cảm bị bỏ rơi toàn diện. Nghĩa cử ấy thật là vĩ đại, con người phải vinh danh những bà mẹ, những bà vợ, những chị, những em của các người tù trong các trại hóa thú của cộng sản... Nhờ có quà thăm nuôi dịp cuối năm nên chỗ nào cũng tổ chức thành từng nhóm tiệc tùng, chè cháo đón giao thừa. Đây là lần đầu tiên lũ tư nhân được hưởng một cái tết thật thoải mái và tự do nhất trong 4 vòng rào kẽm gai của đạo lý xã hội chủ nghĩa. "Tự Do! " Hai chữ thật mong manh, tự nó đã có những hấp lực khiến con người thèm thuồng, khao khát; nhất là những người sống dưới sự cai tù bạo tàn của cộng sản. Tự do đã trở thành một thứ xa xỉ phẩm trân quý trong cái xã hội cộng sản đầy rẫy những nhà tù từ Bắc chí Nam sau ngày 30-4~975. Tự Do! Hai tiếng quen thuộc mà nghe sao xa lạ như vọng về từ tiền kiếp xa nào và thật là mỉa mai khi nói rằng sống trong lao tù cộng sản mà được hưởng sự tự do... Cái tự do trong những thiên đường cộng sản chỉ là một thứ bánh vẽ, đảng đã dùng để lừa mị nhân dân và lừa mị chính mình. Mọi người "được tự do nói theo những gì đảng nói, lãnh tụ nói và nghĩ theo những gì đảng nghĩ dù đó là những điều gian dối; không được quyền thắc mắc, hay ra ngoài khuôn thước này. Mọi người được tự do sống trong những khuôn mẫu đảng nắn và làm rập khuôn những điều đảng dạy. Con người trở thành những cái máy: đi, đứng, nói, nghĩ, làm, ăn, ở, mặc v.v... rập khuôn giống nhau. Nếu phần tử nào đi chệch choạc đường đảng vẽ thì sẽ bị đảng loại trừ không thương xót không kể kẻ đó là người dày công hãn mã xây dựng đảng hay là người trước kia đã từng cầm cân nảy mực soạn thảo các kế hoạch cho đảng.&lt;br /&gt;Vậy mà đám tù nhân cải tạo trong khu Trại Suối Máu Biên Hòa đã được hưởng chút tự do hiếm quý ấy trong một thời gian ngắn ngủi. Đó là một sự thật không tưởng, sau cuộc biểu tình ngồi của hơn 5000 tù nhân cải tạo thuộc 5 Trại: K.1, K.2, K.3, K.4 và K.5 vào đêm Giáng Sinh 24-12-1978. Giữa cái giá lạnh của thời tiết mùa đông, Tiếng hát "Đêm đông lạnh lẽo Chúa sinh ra đời. Nằm trong hang đá, nơi máng lừa..." của hơn 5000 cái miệng tù đã vang vọng cả khu Hố Nai, lồng lộng bay trong gió vang xa khắp nơi như một thách đố hùng hồn, nói lên sự can đảm phi thường, tinh thần anh dũng bất khuất trước bạo lực và lập trường chống cộng vững vàng của những Quân Nhân, Công Chức, Cán bộ Xây Dựng Nông Thôn, Cảnh sát Quốc Gia VNCH trong lao tù. Sự kiện bất thường này khiến bọn cai tù cộng sản bối rối, lúng túng không biết xử trí ra sao trước diễn biến bất ngờ này. Cuối cùng tên Trung tá Đào Lượng, Chánh Giám Thị Nhà Giam Chí Hòa 2 (tức Trại Suối Máu) đã phải ra lệnh cho thuộc hạ thả 3 anh em tù nhân bị chúng bắt giữ ở K 1 khi đang tham dự Thánh Lễ nửa đêm. Nguyên nhân chính của cuộc biểu tình phát xuất từ việc bắt giữ 3 Cải tạo Viên ở K1 này kéo theo các K.2, K.3, K.4 và K.5 cùng tham gia cuộc biểu tình ngồi ngoài sân bóng giữa đêm đông giá lạnh. Bọn cộng sản phải huy động xe thiết giáp đến vây khu Trại Suối Máu; nhưng rất may là chúng đã nhượng bộ kịp thời nên không xảy ra cuộc tàn sát đẫm máu vì phe biểu tình cũng đã dự kiến trường hợp bị bọn chúng đàn áp nên người nào cũng chuẩn bị vũ khí là những cây gỗ hoặc thanh sắt, chấp nhận liều chết, lấy số đông đạp rào tiêu diệt cộng sản.&lt;br /&gt;Thà chết một số người nhưng cũng thoát được một số người và cũng diệt được một số cộng sản còn hơn ngồi im cho chúng mặc tình sát hại… Từ sau vụ "nổi loạn" này, bọn Công an VC đâm ra gờm tù cải tạo trong Trại. Chúng không dám ngang nhiên đi vào trong Trại lẻ tẻ như trước. Hàng ngày, cứ sau 6 giờ chiều, khi bóng tối bất đầu phủ xuống khu nhà giam, bọn cai ngục khóa chặt cổng ra vào và từ lúc đó cho đến sáng không một tên nào héo lánh vào Từ sau ngày đó, tù nhân cải tạo được hưởng chút tự do tạm bợ trong 4 vòng kẽm gai nhà giam. Anh em thường tổ chức sinh hoạt văn nghệ hàng đêm để hát những bản nhạc chống cộng của Cục Chính huấn trước kia, tụ họp ăn uống, chè cháo, trò chuyện v.v... từ nhà này sang nhà khác và chui rào sang các Trại kế cận để thăm nhau.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Hồ Văn Hiếu (2) lễ mễ bưng nồi thịt kho từ dưới khu nhà bếp trở về Đội 16. Anh chàng Chuẩn úy Phòng 2 Tiểu khu Long Khánh tuy mới 23 tuổi đầu, với hơn một năm làm lính nhưng cũng đã trải qua 4 mùa xuân đau thương trong lao tù. Bạn bè thường gọi anh là Hiếu Voi vì chiều cao quá khổ và vóc dáng kềnh càng. Hiếu Voi lúc nào cũng xông pha gánh vác những công việc nặng nhọc thay cho các đàn anh gầy còm, ốm yếu. Chiều 29 Tết, Hiếu Voi và một số anh em thuộc Đội 18 của Thượng sĩ già Nguyễn Quang Quýnh, Phòng 2 Tiểu khu Phước Long (3), đã nhận được nhiệm vụ theo Hậu Cần ra chợ Biên Hòa tải hàng về ăn Tết. Bà con buôn bán ở chợ khi biết đám người ăn mặc rách rưới đang khuân vác hàng là Sĩ quan cải tạo liền bảo nhau "phát động căm thù”; họ ùn ùn kéo nhau đến ném vào những tên "ác ôn có nhiều nợ máu với nhân dân" thôi thì đủ mọi loại: bánh chưng, bánh tét, mứt, kẹo, trà, sữa, đường, thuốc lá v.v... Nhiều người còn dúi cả tiền vào tay những người tù, nhưng các anh không dám nhận vì biết đây là tiền mồ hôi nước mất lao động chật vật của đồng bào. Trái với sự tuyên truyền bịp bợm của cộng sản: "Đảng và nhà nước khoan hồng nhân đạo, tạo điều kiện cho các anh ở lại Trại để học tập cải tạo; vì nhân dân bên ngoài đã xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội nên khi gặp các anh, họ sẽ phát động căm thù ném đá vào các anh thì làm sao chúng tôi bảo vệ được? Đảng phải giữ các anh là để bào vệ an ninh cho các anh..."&lt;br /&gt;Cái tình cảm của dân chúng Miền Nam đành cho những anh em cải tạo nó bao la như biển rộng mà các anh đã gặp trên khắp mọi nơi. Nhân dân Miền Nam lúc nào cũng dành tình thương mến sâu đậm với chiến sĩ VNCH; nhất là trong hoàn cảnh lao tù; nên bất kỳ ở đâu, khi người tù đi ra ngoài, gặp được dân chúng là y như rằng sẽ được họ tiếp tế đủ mọi thứ theo khả năng của từng nhóm người. Có lẽ đây là một cách họ ngầm cảm ơn sự hy sinh cao cả của anh em khi xả thân phục vụ đất nước bảo vệ sinh mạng và tài sản cho chính họ, nay sa cơ thất thế trong vòng tay bạo tàn của cộng sản, họ tìm cách ngầm trả ơn; nhưng cũng có thể chỉ vì lòng thương hại cho kẻ thất thế cá chậu chim lồng mà ra tay cứu giúp. Dù sao chăng nữa tình cảm cao quý ấy cũng làm ấm lòng những người tù. Nhưng không phải tất cả mọi người đều có lòng tốt bụng như vậy, mà ở một số địa phương có nhiều kẻ vì theo đóm ăn tàn, muốn lập công nên cũng hà hiếp đồng bào để tiến thân..., gặp những phần tử này, anh em cũng bị nhiều nỗi đau đớn, oan khiên.&lt;br /&gt;Hiếu lợi dụng lúc nhốn nháo, đông đúc, chạy vội lại hàng thịt mua được vài ký thịt heo, người bán hàng chỉ lấy với giá tượng trưng; nhờ vậy tối nay bọn chàng có được nồi thịt heo béo ngậy để ăn với dưa chua... Cũng may toán công tác về đến Trại quá tối nên không bị vệ binh gác cổng khám xét gì cả; hơn nữa bọn vệ binh thấy tải hàng Tết về nên bọn chúng cũng chộn rộn chờ được chia chác khẩu phần Tết. Nhờ vậy quân ta hoàn toàn không tổn thất gì...&lt;br /&gt;Lê Văn Lâm (4), Trung úy, Sĩ quan Không ảnh của Phòng 2 thuộc Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn III và Phạm Anh Tuấn (5), Trung úy, Sĩ quan An Ninh của Trung Tâm Thẩm Vấn Quân Đoàn III có nhiệm vụ kê bàn ghế cho bữa ăn tối nay của cả nhóm. Những chiếc bàn con được kê liền sát nhau ở lối đi giữa hai Đội 15 và 16 K.1, dưới tàn trứng cá. Không hiểu anh chàng cải tạo nào đã có sáng kiến trồng trứng cá chung quanh nhà, vừa có bóng mát làm dịu đi cái nóng như thiêu đốt của trưa hè, vừa có trái ngọt để ngày ngày từng anh ra ngửa cổ lên tàn cây trứng cá tìm kiếm chút chất ngọt bồi dưỡng cho cái cơ thể thiếu đường kinh niên, căn bệnh chính của mọi người tù. Toàn trại K 1 đều được trồng những cây trứng cá dọc theo hiên nhà, mỗi cây cách nhau độ 3 mét, nên bóng mát che rợp lối đi giữa hai căn nhà. Cũng chính vì thế trong trại đã nảy sinh ra một cái nghề không giống ai: nghề nuôi bọ ngựa. Có lẽ cái nghề này chỉ phát được trong trại tù khi người ta bị dồn vào cùng đường nên tìm mọi thứ tiêu khiển để quên tháng ngày dài đăng đẳng trong 4 vòng rào kẽm gai để không còn phải nghĩ ngợi phiền muộn vì mong ngóng ngày về. Trước đây đã có những anh nuôi kiến, nuôi ruồi, nuôi dán, nuôi dế... thì ở K 1 giờ lại có thêm nghề nuôi bọ ngựa nữa mới lạ đời. Những anh chàng bọ ngựa thân hình dài ngoằng ốm nhách, với hai cái càng lúc nào cũng ở tư thế sẵn sàng chém bất cứ kẻ thù nào đứng trước mặt; nhưng thân hình lại khoác một chiếc áo nhà tu với chiếc áo choàng là đôi cánh dài, hai cái càng lúc nào cũng như chắp lại phía trước để cầu nguyện. Có lẽ chính vì thế mà họ hàng nhà bọ ngựa dù có tên gọi là "mantis" nhưng đồng thời cũng được gọi là "praying mantis". Từ khi nghề nuôi bọ ngựa được phát triển mạnh mẽ trong trại cải tạo, bỗng dưng các chú "mantises" được sủng ái một cách đặc biệt: được các đấng tù nâng niu, nuôi nấng trong các “lâu đài tình ái" làm bằng những chiếc hộp giấy có lót giấy hoặc bông gòn cho êm ấm. Từ ngày về dinh, các chú bọ ngựa tự nhiên trở thành chủ nhân ông của những lâu đài xinh xắn, không còn phải hùng hục lao động vất vả theo kiểu "lao động xã hội chủ nghĩa” mới có miếng ăn đói. Các chú cứ việc ngồi không ăn bám, nói theo ngôn ngữ của đảng ta; và các đấng cải tạo tự nhiên trở thành những người hầu, hàng ngày có nhiệm vụ bắt các con ruồi béo ngậy dâng đến tận miệng chủ nhân bọ ngựa. Công việc chính của chú bọ ngựa bây giờ là ăn ngủ cho béo đẫy đà, mau lớn để đến tuổi trăng hoa sẽ được giao hợp với một nàng lady bọ ngựa nẩy nở mơn mởn như nàng “Monica Lewinsky" cho đám khán giả tù xem. Kể ra tạo hoá cũng quá bất công với những chàng bọ ngựa, vì đời sống của các chàng quá ngắn ngủi; ngay khi vừa biết mùi vị tình ái lần đầu tiên trong đời thì cũng là lúc chàng khăn gói quả mướp đi vào cõi chết; vì phong tục tập quán ngàn đời của giòng giống nhà chàng là sau cơn ân ái, nàng bọ ngựa sẽ xơi tái người tình của mình để "mãi mãi chàng ở trong em... "Có lẽ giống bọ ngựa là giống máu ghen kinh khủng nhất đời, hơn Hoạn Thư ngày xưa gấp ngàn vạn lần... và các chàng bọ ngựa cũng là kẻ sợ vợ nhất thế gian vì chàng chỉ tuân phục nằm tin cho nàng xơi tái mà không oán trách kêu gào, chống cự gì cả.&lt;br /&gt;Gió thổi rì rào trên các tàn lá trứng cá, tạo thành những âm thanh xào xạc. Tiếng nói, tiếng cười hoà lẫn tiếng bàn ghế va chạm, tiếng bát đũa khiến Vũ có cảm giác như đang được tham dự một đám giỗ tết ở gia đình khi xưa, lúc đất nước chưa bị tan hoang bởi sự tàn phá của người cộng sản; chỉ có khác chăng là cái khung cảnh âm u của đêm tối và thực khách tham dự là những hình nhân gầy guộc. Trung sĩ nhất Phạm Văn Ứng, đơn vị 101 Quân Báo (6) đang đặt chiếc đèn chai lù mù lên bàn và Nguyễn Bình Trị, Trung úy thuộc Cục Tâm Lý Chiến (7) đang loay hoay sắp xếp những món ăn trên bàn. Hai cái điếu cày nhôm làm bằng vỏ của trái hoả pháo được chạm trổ tinh vi hình rồng uốn khúc cũng được đặt sẵn trên bàn cùng hộp thuốc lào ba số 8 và bó đóm tre. Hút thuốc lào là cả một cái thú vị; hơi khói thuốc lào phải được đốt bằng đóm tre tước thiệt mỏng thì mới ngon. khói thuốc sẽ chạy từ nõ điếu xuống phần nước ở trong chiếc điếu cầy, phát ra những âm thanh lọc sọc và khói thuốc bị dồn thẳng vào phổi làm tê rần xuống tận đầu ngón tay. Dân hút thuốc lào gọi lúc này là lúc "thủy hoả tương giao", nên các anh chàng ghiền thuốc lào còn hơn ghiền gái. Chẳng thế mà ở tờ giấy nhãn thuốc Ba Số Tám có in hai câu:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;"Ông đây muốn bỏ thuốc lào,&lt;br /&gt;Đã chôn điếu xuống lại đào điếu lên... "&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;để chứng minh rằng cái sự ghiền thuốc lào nó ăn vào tận thâm căn cố đế của con người nên khó lòng mà bỏ lắm thay. Trong khi đó Nguyễn Anh Tuấn, Trung úy sĩ quan thuộc Tiều đoàn 30 Chiến Tranh Chính Trị (7) đang ngồi so giây chiếc đàn guitare tự chế bằng ván ép.&lt;br /&gt;Tiếng loa phóng thanh của Ban Giám Thị trại giam chát chúa phát ra những âm thanh the thé giọng hát nữ, một bản nhạc nghe rất chi là phản nghệ thuật. Đây là "thơ con cóc" của Hồ Chí Minh, được một nhạc sĩ gia nô nào đó của Miền Bắc phổ thành nhạc. Thơ đã là một quái thai nặng mùi xú uế, mà giai điệu của nhạc hòa lẫn với tiếng the thé truyền thống của ca sĩ xã hội chủ nghĩa khiến "bài vè của bác" trở thành càng khó ngửi hơn. Tội nghiệp cho cái lỗ tai của hơn 60 triệu đồng bào cả nước bị tra tấn bằng một loại thơ, nhạc thơm mùi cóc chết ròng rã suốt bao chục năm trời:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;em&gt;"Năm qua thắng lợi vẻ vang&lt;br /&gt;Năm nay tiền tuyến chắc càng thắng to&lt;br /&gt;Vì độc lập , vì tự do&lt;br /&gt;Đánh cho Mỹ cút, đánh cho Ngụy nhào&lt;br /&gt;Tiến lên chiến sĩ, đồng bào&lt;br /&gt;Bắc Nam sum họp xuân nào vui hơn ? "&lt;/em&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Vâng! Đúng là vui hơn! Sau ngày hiệp thương thống nhất đất nước để tiến nhanh, tiến mạnh lên xã hội chủ nghĩa, con người vong bản Việt cộng đã biến cả nước thành một địa ngục khổng lồ, đã khiến biết bao gia đình ly tán, đã đẩy trẻ thơ ra khỏi trường học để cầm cuốc xẻng lao động, để lang thang đầu đường xó chợ... Chỉ trong một thời gian ngấn sau khi chiếm cứ Miền Nam, cộng sản đã biến phần đất sung túc, no ấm thành mảnh đất nghèo nàn, lạc hậu, thiếu ăn; họ đã đưa nhân dân Miền Nam bước một bước thụt lùi bằng đôi hia bảy dặm để theo kịp đà lạc hậu, chậm tiến của Miền Bắc xã hội chủ nghĩa. Sau ngày Bắc Nam sum họp, chỉ nhìn thấy những khuôn mặt u sầu, ủ rũ của người dân bị tước đoạt tài sản, bị tịch thu nhà đất, bị đầy ải lên những vùng rừng thiêng nước độc để xây dựng vùng kinh tế mới, được biết thế nào là ăn độn ngô, khoai, sắn, bo bo đến xanh lè cả người. Chỉ thấy con người ốm o gầy mòn vì thiếu thực phẩm, thiếu dinh dưỡng. Chỉ thấy những ánh mắt lờ đờ mỏi mệt vì thiếu ăn và sợ sệt vì không biết khi nào thì bị bắt bớ đầy ải trong các trại cải tạo.&lt;br /&gt;Cộng sản đã thành công trong việc bần cùng hóa nhân dân; chúng đã áp đặt chính sách mậu dịch quốc doanh để kiểm soát chặt chẽ cái bao tử người dân và chúng lại càng thành công hơn trong việc sử dụng bạo lực một cách dã man, tàn nhẫn để khống chế, trấn áp người dân.&lt;br /&gt;Hình ảnh cái loa trong xã hội cộng sản đã trở thành một thứ biểu tượng đặc biệt phó biến rộng rãi ở bất cứ một nước cộng sản nào.&lt;br /&gt;Nó là nỗi ám ảnh kinh hoàng đối với người dân. Khắp cả nước, chỗ nào cũng có những cái loa với tiếng the thé của xướng ngôn viên ré lên từ tờ mờ sáng, khi mọi người đang yên ngủ trong những giấc mơ bình an; nó xoáy vào đến tận óc khiến người ta phải rùng mình nổi gai ốc choàng tỉnh dậy và cứ thế nó kéo dài cho đến khuya. . . Cái loa là nỗi kinh hoàng của biết bao người trong xã hội cộng sản. Cái loa là một hình thức tra tấn, hành hạ khủng khiếp nhất đối với tù nhân; vừa dùng để nhét vào sọ lũ tù bằng thứ lý luận ngô nghê rỗng tuếch, vừa để tuyên truyền đường lối chính sách lừa mị của đảng, nhai đi nhai lại cùng một luận điệu tuyên truyền rẻ tiền ngày này sang ngày khác. Đêm nào cũng vậy, cứ vào lúc 11 giờ khuya, khi mọi người vừa chập chờn trong giấc ngủ mỏi mệt sau một ngày lao động vất vả thì cái loa ré lên, ra rả nói khiến cho người hiền lành nhất của phải phát chửi thề. Người tù trong xã hội cộng sản là những người treo đời mình trên sợi giây định mệnh nghiệt ngã mà ranh giới giữa sự sống và cái chết không còn nghĩa lý.&lt;br /&gt;Tiếng loa phát thanh đêm nay cũng báo hiệu sắp đến giờ giao thừa, sắp đến thời điểm lụi tàn của năm cũ Mậu Ngọ để bước vào năm Kỷ Mùi, cũng là năm từ thứ tư của đời người bại binh trong tủi nhục hằng hằng dưới đáy sâu địa ngục đỏ...&lt;br /&gt;Bạn bè của Vũ đã lục tục kẻo đến, người nào vai cũng vác theo ghế xếp, tay cầm chén đũa. Ghế là những thanh gỗ do người tù tự đóng lấy và mặt ghế là những mảnh vải bao cát gỡ từ các lô cốt. Trong cái xã hội nhỏ bé lao tù, mỗi lần đi đâu đều phải mang theo ghế riêng mới có chỗ ngồi, nhất là đi dự "tiệc tùng, chè cháo"; thực khách phải tự túc ghế ngồi và bát đũa để không gây phiền phức, bối rối cho chủ nhân trong cơn bĩ cực. Nhiều khi nói tiệc tùng cho có vẻ sang trọng, có vẻ "ăn cơm khách"; thực ra có những bữa tiệc trên 10 người dự mà thức ăn chỉ là ngô, hoặc khoai sắn cùng một nồi canh lá lang nấu với vài con nhái nhỏ bằng đầu ngón tay. Người bất được nhái muốn chia sẻ chút protéin hiếm quý từ trong những con nhái nhỏ để đánh lừa cái bao tử luôn luôn thiếu thốn chất protéin. Ngay từ bản chất, những người lù cải tạo đã là những Sĩ quan QLVNCH nên cái máu tiểu tư sản trí thức vẫn ăn sâu trong huyết quản, cho dù ở hoàn cảnh khốn cùng cũng vẫn giữ được cái tư cách đàng hoàng chững chạc, cái tác phong trang trọng. Dĩ nhiên trong tập thề đông đảo cũng có những con sâu bọ hèn mạt, nhưng họ chẳng qua là một thiểu số không đáng kể; với thời gian họ cũng phải sáng mắt, sáng lòng.&lt;br /&gt;Đêm hôm nay khung cảnh của trại vui nhộn hẳn lên vì chỗ nào cũng tụ tập thành từng nhóm nhỏ từ 5, 6 người hoặc đông hơn ngồi tiệc tùng chè chén, ca hát hoặc trò chuyện. Những ánh đèn chai lù mù giăng kín cả sân, rải rác khắp nơi như ánh sao sa trông khung cảnh càng thêm huyền ảo. Nhóm của Vũ đông gần 20 người, toàn là những bạn bè thân thiết quen nhau từ trước 30-4-1975, hoặc đã sống với nhau nhiều năm trong lao tù. Họ trò chuyện vang rền. Những kỷ niệm của một thời, một tuổi lãng đãng như mây trời cuồn cuộn kẻo về vây phủ tâm hồn kẻ tù đầy.&lt;br /&gt;Tiếng cười dòn dã của Dương Cự (8), giọng nói sang sảng của Hoàng Văn Giang (9), cặp mắt ti hí của Phan Lạc Giang Đông (10) tiếng nói nhỏ nhẹ như con gái của Đỗ Văn Thụy (11) hòa lẫn đủ mọi âm thanh cười nói, tiếng bát đũa va chạm... Đặc biệt trong bữa tiệc tất niên hôm nay còn có 1 người "khách ngoại quốc" tham dự đó là Thái Kim Thủy (13), Trung úy Sĩ quan Phòng 2/Quân Đoàn III, bạn cùng khóa và cùng đơn vị với Vũ từ K.5 leo rào sang tham dự nên được bạn bè gọi đùa là “khách ngoại quốc”.&lt;br /&gt;Bữa ăn được tô điểm đậm đà hơn nhờ chút men rượu Bách Nhật do Mẹ Vũ mang gửi chung trong gói quà tết cho anh. Chai rượu được ngụy trang trong một chai nước mắm với đầy đủ nhãn hiệu của Công ty Quốc Doanh Nước Mắm Phan Thiết để che mắt bọn công an coi tù. Mẹ anh còn cẩn thận bôi nước mắm lên nắp và thành chai để xông lên mùi nồng nặc, đánh lừa lũ công an; chính vì vậy khi khám xét trước khi cho vào trại bọn chúng đã không nghi ngờ gì cả. Ngay bản thân Vũ cũng không hề biết có 1 chai rượu trong bao đựng quà của mình; cho đến khi Cán lấy ra để định pha nước mắm tỏi ớt mới phát giác ra món quà đặc biệt ngày cuối năm của Vũ là một chai rượu Bách Nhật. Đây là một loại rượu rất đặc biệt do Mẹ Vũ pha chế hằng năm để dùng trong gia đình. Rượu có vị ngọt, thơm và màu đỏ thẫm như màu rượu vang nhưng ngon hơn vì làm bằng gạo nếp than. Mẹ Vũ ủ và lọc thật công phu mới có được những chai rượu trong vắt không gợn chút cặn đục. Bà dùng loại gạo nếp than thật tốt, nấu thành xôi, không được khô quá cũng không được nhão quá; sau đó trải đều trên những tấm nia đan bằng tre cho nguội, phía dưới có lót lá chuối. Khi nếp đã nguội hẳn, rắc đều lên trên mặt một lớp men rượu (men nhiều hay ít tùy ý; nếu muốn rượu nặng thì cho nhiều men, nếu muốn độ rượu nhẹ thì cho ít men); rồi đem ủ kín. Khoảng 2 ngày sau, xôi bắt đầu lên men, bốc mùi thơm lừng cả nhà và tươm ra những nước “cái rươu” màu đỏ hồng, ngọt lịm. Lúc này đem ra ăn sẽ có mùi vị giống như ăm cơm rượu giết sâu bọ trong dịp Tết Đoan Ngọ, nhưng thơm và ngon ngọt hơn vì làm bằng gạp nếp than. Mẹ Vũ đem tất cả cho vào một cái hũ lớn có dung tích khoảng 50 lít, thêm vào đấy vài lít rượu đế vài củ sâm Cao Ly, Thục Địa và Táo Tàu... đậy nút thật chặt rồi đem chôn ngoài vườn đúng một trăm ngày (vì thế thường được gọi là rượu Bách Nhật). Khi đào lên, đem lọc kỹ sẽ có mùi thơm ngào ngạt và khi uống có vị ngọt. Vì rượu làm để dùng trong nhà nên nhiều khi mẹ chàng chôn cả năm dưới đất; càng chôn lâu, rượu càng ngon.&lt;br /&gt;Các bà mẹ Việt Nam là những người đàn bà tuyệt vời nhất trần gian; các bà hy sinh suốt cả cuộc đời cho chồng con. Các bà lo liệu chu toàn mọi việc từ trong nhà đến ngoài ngõ; từ chuyện quản trị ngân sách gia đình đến chuyện giao tế với xã hội; mọi việc đều được sắp xếp gọn ghẽ đâu vào đấy.&lt;br /&gt;Các bà lo cho con cái từ miếng ăn cho đến manh áo, lúc nào cũng yêu thương bảo bọc các con. Mẹ mất ăn mất ngủ trằn trọc hàng đêm theo bước chân con đang gian lao ở những chiến trường xa. Đến khi nước mất nhà tan mẹ lại lặn lội thân cò tìm con khắp nơi, nuôi con khắp mọi chỗ cho dù xa xôi cách mấy mẹ cũng tìm đến để nuôi con. Tình thương của các bà mẹ Việt Nam thật là vĩ đại hơn bất cứ thứ gì trên đời. Vũ thầm nghĩ nếu anh mà có quyền cao chức trọng, việc (fâu tiên anh làm sẽ là tuyên dương người mẹ Việt Nam cho toàn thế giới phải khâm phục...&lt;br /&gt;Nhờ có chút men rượu nên những món ăn trở nên ngon hơn. Người nào cũng tấm tắc khen rượu Bách Nhật của Mẹ Vũ làm ngon; hơn nữa trong hoàn cảnh khốn cùng của bọn chàng; có chút men rượu đã là điều ngoài dự tưởng. Ai cũng ngạc nhiên với món quà bất ngờ cuối năm mà Vũ nhận được trong thùng quà mà họ cũng nhờ đó được hưởng lây.&lt;br /&gt;Khoảng một tiếng đồng hồ sau, khi những món ăn trên bàn đã được thanh toán một cách cẩn thận; mọi người đều cảm thấy ấm áp cái dạ dày vốn lép kẹp lâu ngày. Ứng, Cán và Hiếu Voi thu dọn chiến trường để chuyển sang tiết mục văn nghệ bỏ túi.&lt;br /&gt;Đêm càng khuya, gió lạnh heo hút; mọi người yên lặng lắng hồn minh theo tiếng đàn, tiếng hát. Tiếng hát của Nguyễn Anh Tuấn trầm ấm, lôi kéo người nghe nhớ lại những kỷ niệm hào hùng của người lính chiến VNCH qua những bài Chiến đấu ca đã một thời vang vang trên khắp mọi nẻo đường đất nước. Những bài hát có tác động tinh thần làm người nghe phải rưng rưng nước mắt khi nghĩ đến bạn bè của mình đã ngã xuống một cách kiêu hùng trên khắp mọi địa danh sôi động của 4 Vùng Chiến thuật. Máu của quân dấn Miên Nam đã thấm xuống lòng đất mẹ để bảo vệ từng tấc đất thân yêu không bị lọt vào tay giặc thù vong nô Việt cộng.&lt;br /&gt;Máu của họ đã tô thắm ngọn cờ vàng ba sọc đỏ và viết nên những trang sử bêu hùng. Giờ đây trong cảnh nước mất nhà tan, mang thân phận tù đầy trong đáy sâu địa ngục đỏ, họ là những người bị bội phản đớn hèn bởi ngay những người lãnh đạo của họ; bởi ngay những kẻ gọi là đồng minh của họ. Họ đang phải ngày qua ngày treo đời mình trên sợi giây định mệnh nghiệt ngã, kéo dài kiếp tù đầy trong những trại biến hình của cộng sản. Họ đang ngậm những trái bồ hòn để đi trên đoạn đường núi sọ, lòng nuôi căm thù ngút lửa. Họ xót xa khi nghĩ đến sự hy sinh cao quý của bạn bè mình cho quê hương yêu dấu mà nay bị bội phản đớn hèn...&lt;br /&gt;Tiếng hát của Tuấn lãng đãng bay trong không gian ùn ắng của đêm khuya, làm se sắt lòng người. Vũ bất chợt rùng mình không hiểu vì lạnh hay vì nghĩ đến bản nhạc Tuấn đang hát. Vũ còn nhớ hình ảnh của Tuấn cùng với cây đàn guitare và bộ treillis, đi khắp mọi nơi để trình diễn cho các đơn vị chiến đấu. Cũng vẫn dáng dấp thư sinh cao gầy ấy, giọng hát truyền cảm ấy và tiếng đàn réo rất ấy; ào bây giờ Vũ thấy Tuấn thành công hơn trước, gây được sự xúc động cho người nghe nhiều hơn trước.&lt;br /&gt;Đêm đã thật khuya, sương xuống ướt đẫm vai áo, gió vi vu trên cao, làm rung động nhè nhẹ ào tàn trứng cá. Đa số anh em đã giải tán đi ngủ để sáng ngày mai còn theo dõi trận đấu bóng chuyền giữa các Đội. Những ánh đèn chai không còn như sao sa ở các khoảng trống giữa hai dãy nhà, khiến bóng tối dày đặc thêm và không gian cũng yên tĩnh hơn. Nhóm của Vũ cuối cùng chỉ còn lại 4 người: Vũ, Cán, Tuấn và Ứng. Cây đàn guitare đã được dựng ở hiên nhà. Tiếng nõ điếu cày lọc sọc và ánh lửa lập lòe lừ cây đóm tre trên tay Cán. Mùi khói thuốc lào thơm phức tan mang trong không khí mù đặc hơi sương. Tuấn đang thì thào kể cho Ứng nghe về cuộc đời ca hát của anh ngày xưa, về mối tình với cô ca sĩ của Tiểu đoàn 30 CTCT tên Mai Khanh và những kỷ niệm khi đóng phim Sóng Tình với Thẩm Thúy Hằng...&lt;br /&gt;Năm mới đã bất đầu; không biết Vũ và bạn bè còn phải chịu đựng bao nhiêu năm tháng nhục nhằn trong lao tù của lũ cộng sản xảo quyệt và đê hèn. Lòng Vũ trống trải. Anh đứng dậy, lững thững đi vào nhà với những ý nghĩ vẩn vơ, đầu óc rối mù. Đã 4 mùa xuân trôi qua hờ hững. Bốn mùa Xuân làm kiếp bại binh trong tận cùng đáy sâu của lao tù. Đây là rân đầu tiên Vũ cảm thấy buồn da diết...&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;VŨ UYÊN GIANG&lt;/strong&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;Ghi chú:&lt;br /&gt;(1 ) Nguyễn Ngọc Cán hiện đang định cư ở Paris, Pháp&lt;br /&gt;(2) Hồ Văn Hiếu đang ở Los Angeles, CA.&lt;br /&gt;(3) ông Nguyễn Quang Quýnh, Thượng sĩ Phòng 2/ Tiều khu Phước Long đã qua đời ở VN&lt;br /&gt;(4) Lê Văn Lâm hiện ở Chicago, Illinois&lt;br /&gt;(5) Phạm Anh Tuấn hiện cùng vợ con sống ở Houston, Texas&lt;br /&gt;(6) Trung sĩ Phạm Văn Ứng thuộc Đơn vị 101 hiện còn ở VN&lt;br /&gt;(7) Nguyễn Bình Trị hiện cư ngụ ở Santa Ana, Califomia&lt;br /&gt;(8) Nguyễn Anh Tuấn nghe nói đã sang Mỹ theo diện HO nhưng không biết ở Tiểu bang nào&lt;br /&gt;(9) Dương Cự, Trung úy Quân Pháp, ủy viên Chính phủ thuộc Tòa án Quân sự Quân Đoàn 4. Đã qua đời ở VN từ Tháng 4/2006&lt;br /&gt;(10) Hoàng Văn Giang, Đại úy Đại đội trưởng thuộc Sư đoàn 1BB. Hiện đang cư ngụ ở Chicago, Illinois. Anh còn có bút hiệu là Việt Dương&lt;br /&gt;(11) Phan Lạc Giang Đông, Trung úy CTCT Không Quân. Đông đã qua đời sau khi được sang Hoa kỳ và định cư ở Seattle, WA. Đông là em ruột của Phan Lạc Tuyên, người quân nhân BĐQ đã tham gia đảo chánh TT.Ngô Đình Diệm năm 1960 nhưng bị thất bại phải chạy sang Nam Vang. Tại Nam Vang Tuyên đã đi theo VC và được VC cho sang Ba Lan học về sử&lt;br /&gt;(12) Đỗ Văn Thụy, Đại úy Huấn luyện viên của Trường Bộ Binh Thủ Đức. Hiện đang cư ngụ ở Hoa Kỳ&lt;br /&gt;(13) Thái Kim Thủy hiện cư ngụ tại Albuquerque, New Mexico &lt;/div&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/9009333266934427487-952059360184425329?l=trenduongbiengioi.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://trenduongbiengioi.blogspot.com/feeds/952059360184425329/comments/default' title='Post Comments'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://trenduongbiengioi.blogspot.com/2009/10/mon-qua-cuoi-nam-vu-nhat-may-cuc-than.html#comment-form' title='0 Comments'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/9009333266934427487/posts/default/952059360184425329'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/9009333266934427487/posts/default/952059360184425329'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://trenduongbiengioi.blogspot.com/2009/10/mon-qua-cuoi-nam-vu-nhat-may-cuc-than.html' title='MÓN QUÀ CUỐI NĂM'/><author><name>Vũ Uyên Giang</name><uri>http://www.blogger.com/profile/14317469376846546930</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='27' height='32' src='http://4.bp.blogspot.com/_a9tmOxlA1Y8/SurV9bfSPWI/AAAAAAAAAAU/3GQa-eia6Kw/S220/vinh1.jpg'/></author><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-9009333266934427487.post-6960703746039934150</id><published>2009-10-30T05:16:00.000-07:00</published><updated>2009-10-30T05:31:16.368-07:00</updated><title type='text'>TRÊN ĐƯỜNG BIÊN GIỚI</title><content type='html'>&lt;div align="justify"&gt;&lt;span style="font-size:130%;color:#000066;"&gt;&lt;strong&gt;TRÊN ĐƯỜNG BIÊN GIỚI&lt;/strong&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt; &lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;Lời nói đầu:&lt;/strong&gt; &lt;em&gt;Đây là một câu chuyện có thật xảy ra vào thời gian năm 1982 tại vùng biên giới Thái- Miên Aranya Prathet. Tác giả sống ở vùng này một thời gian ngắn và đã trực tiếp chứng kiến nên ghi lại trong truyện như những giòng hồi tưởng một quãng đời đã qua, để nhớ những người bạn đã gặp trên bước đường lưu lạc. Tên các nhân vật trong truyện đều là những người có thật mà tác giả có dịp được gặp.&lt;/em&gt; &lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;strong&gt;VUG&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;1.&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;strong&gt;&lt;span style="font-size:130%;"&gt;V&lt;/span&gt;&lt;/strong&gt;ũ lơ đãng ngó qua khung cửa kính xe ra hai bên đường. Những hàng cây như nối đuôi nhau chạy vùn vụt về phía sau; từng cánh đồng ngập nước và những đám mạ mới cấy thành hàng thẳng tắp khiến anh nhớ đến con đường Quốc Lộ 4 nối liền Sàigòn - Mỹ Tho mà ngày xưa trên đường hành quân anh thường đi qua. Cũng những cánh đồng nước lấp xấp xanh rì màu mạ xa hút tầm mắt; mỗi lần gió thổi lại bồng bềnh như những gợn sóng lăn tăn cuốn trôi vào vô tận.&lt;br /&gt;Giòng ký ức mù xa như cơn thác lũ bủa vây con người anh. Trí nhớ thui chột sau bao nhiêu tháng năm dài trong lao tù cộng sản tưởng chừng không thể hồi phục được bỗng nhiên ùa ập kéo về tràn đầy cân não. Anh chợt cười vu vơ. Thời gian trôi đi quá nhanh, mới thoáng đó mà Vũ đã rời quân ngũ gần 10 năm. Mười năm của một đời người quả là ngắn ngủi; cái thoáng chốc với bao nhiêu đổi thay, thăng trầm như từ đen qua trắng, từ vàng sang đỏ, từ tự do dân chủ sang cộng sản chuyên chính. Cộng sản như một thứ giòi bọ rúc rỉa cơ thể con người, biến đổi con người thành những xác ma vật vờ sống dở, chết dở bên lề cuộc đời. Con người cộng sản lúc nào cũng thiển cận, ngoan cố khư khư mang trong đầu một thứ lý thuyết rỗng tuếch vay mượn, vá víu để tự lừa dối chính họ và lừa dối mọi người. Họ lúc nào cũng huênh hoang khoác lác bằng những ngôn từ đao to búa lớn "hiện thực xã hội chủ nghĩa", để cố gắng che giấu sự ngu dốt của họ. Họ không chịu mở rộng tầm mắt nhìn ra thế giới bên ngoài; để thấy rằng trong khi thế giới đã tiến triển vượt bực về mọi mặt, thì họ đi thụt lùi càng ngày càng xa về phía sau. Họ không có đủ tri thức tối thiểu để ngừng lại đúng lúc, đúng chỗ mà cứ tự đánh lừa mình bằng thứ chủ nghĩa ưu việt giật lùi; dù vẫn biết chỉ là thân phận của một thứ ếch nhái, ễnh ương nhưng khi thấy tiếng kêu uôm uôm của mình dưới đáy giếng đã vội nghĩ là mình to giống con bò, nên cố phình bụng cho to bằng bụng bò...&lt;br /&gt;Vũ chợt cười thích thú khi nghĩ đến mẩu chuyện ngụ ngôn của Lafontaine rất thích hợp với cộng sản. Những con người dốt nát ấy khi đã nắm được quyền lực trong tay thì mặc sức tự tung, tự tác hành động theo kiểu suy nghĩ nông cạn, thấp kém của họ. Vì vậy chỉ trong một thoáng chốc sau khi chiếm trọn Miền Nam, cộng sản đã dìm cả nước trong thảm kịch bi đát nhất lịch sử nhân loại. Đã đẩy con người đi ngược trở lại thời thời hoang dã, nghèo nàn, lạc hậu và ngu dốt cả trăm năm trước. Cái thoáng chốc ấy đã biến anh và toàn dân Miền Nam đắm chìm xuống đáy sâu vực thẳm của địa ngục đỏ... &lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;br /&gt;2. &lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;br /&gt;Chiếc xe du lịch màu trắng mang bảng số ngoại giao của Tòa Đại sứ Mỹ tại Bangkok vẫn lao như bay trên con đường đất đỏ hướng về phía biên giới Thái - Miên, bỏ lại phía sau một đám bụi mù mịt. Lác đác dăm ba chiếc "xảm ló" (1) chạy lọc cọc, chìm lấp trong lớp bụi đỏ do chiếc xe chở Vũ tung lên.&lt;br /&gt;Ram Ruong, người Trung úy sĩ quan liên lạc thuộc đơn vị 309 Tình Báo Biên Giới của Quân Đội Hoàng Gia Thái, ngồi ở băng ghế trước cạnh tài xế, có nhiệm vụ đi theo Vũ để liên lạc và phiên dịch tiếng Thái khi cần thiết, đang ngủ gà ngủ gật, đầu ngoẹo sang một bên, lắc lư theo độ nhún của chiếc xe. Ngưới tài xế Thái mắt chăm chú ngó về phía trước tay giữ chặt volant. Vũ cảm thấy mỏi nhừ cả người vì phải ngồi trên xe suốt chặng đường dài hơn 500 cây số từ thủ đô Bangkok ra quận lỵ Aranya Prathet, thuộc Tỉnh Prachin Buri, nằm về phía Đông Bắc Thái Lan.. Trong phiên họp hôm qua ở Cơ quan DAO thuộc Văn phòng Tùy Viên Quốc Phòng Tòa Đại sứ Mỹ, Vũ đã nhận được lệnh đi ra vùng biên giới này để thanh lọc một số bộ đội Việt cộng mới bị bắt trong trận giao tranh giữa quân đội Thái và lực lượng Việt cộng chiếm đóng Campuchia. Nhân tiện anh cũng định đi ra mấy Trại Tị nạn đường bộ như NW.82 của Thái và Nong Chan, Nong Samit của Kháng Chiến Miên để tìm Nguyễn Bá Ruyệt (2), một người Việt tị nạn vượt thoát bằng đường bộ qua ngả Campuchia, đã bị thương một chân vì đạp phải mìn của Khmer Đỏ. Ông David Campbell, xếp trực tiếp của Vũ dăn anh:&lt;br /&gt;- Ông đi ra biên giới cần phải cẩn thận và nhớ kỹ là: Quận lỵ Aranya Prathet cách biên giới Thái - Miên có 5 cây số. Ban đêm ở đó ông có thể nghe thấy tiếng pháo binh của VC départ. Nếu không muốn mất mạng, ông tuyệt đối không nên đi vào các làng Việt Nam vì gần như 100% bọn họ là thành phần dân đồn điền cao su, sang Thái từ trước năm 1945, vẫn trung thành và ủng hộ Hồ Chí Minh..."&lt;br /&gt;Vũ mỉm cười vu vơ. Không ngờ mình đã rời quân ngũ một thời gian dài, nay lại có dịp trở ra chiến trường, nghe lại tiếng súng quen thuộc. Lòng Vũ nôn nao háo hức một cách khó tả. Anh bâng khuâng nghĩ đến những ngày sôi động trong cuộc chiến chống Cộng của quân dân Miền Nam. Nhớ từng kỷ niệm vui buồn của đời quân ngũ. Nhớ những bạn bè đồng đội từng sát cánh với nhau trên khắp các mặt trận nóng bỏng khói súng. Bao nhiêu đứa bạn của anh đã ngã xuống, lấy máu thấm mảnh đất cằn cỗi ở những điạ danh xa lạ: Tàu Ô, Xa Mát, Kà Tum, Bù Đăng, Bù Đốp, Chu Prong, Đức Cơ, Pleime... chỉ vì muốn sống tự do, chỉ vì muốn bảo vệ nhân dân miền Nam trước nanh vuốt bạo tàn của giặc cộng. Bao nhiêu thằng đã kéo lê kiếp sống buồn tủi, nhục nhằn trong những trại biến hình cải tạo của cộng sản sau khi Miền Nam bị rơi vào tay giặc thù và bao nhiêu thằng đã lang thang phiêu bạt quê người?&lt;br /&gt;Ngày đó đã lùi xa vào quá vãng, chỉ còn lại trong anh những dư âm xao động của một thời, một tuổi. Bây giờ anh cũng trở lại vùng chiến trường sôi động được cả thế giới chú ý đến vì sự diệt chủng của nhóm cộng sản cuồng tín Khmer Đỏ do Pôn Pốt lãnh đạo; cũng bởi sự chiếm đóng lâu dài của CSVN trên đất Campuchia và vì người dân Việt - Miên - Lào ròng rã bao nhiêu năm trời, bằng mọi cách vượt thoát khỏi thiên đường đỏ của cộng sản mặc những hiểm nguy, gian lao và khổ ải. Cả thế giới đã bàng hoàng thức tỉnh khi nhìn vào con số những người vượt thoát mỗi ngày một đông để chứng tỏ một điều là dưới chế độ cộng sản, con người chỉ mang thân phận của một thứ nô lệ mới, bị tước đoạt mọi quyền sống tối thiểu của con người. Họ đã bất chấp mọi hiểm nguy, chết chóc để chỉ kiếm tìm một hơi thở tự do trân quý chẳng thể nào có được trong thế giới cộng sản... Anh trở lại vùng biên giới kỳ này với danh nghĩa một viên chức của Tòa Đại sứ Hoa Kỳ. Dưới mắt của người Thái, họ vẫn nhìn anh là một người Mỹ, viên chức của chính phủ Mỹ - "Khun Phá lẳng" (3) - họ thường gọi anh như vậy. Đôi khi mấy người Thái còn gọi anh là Khun Chanas Michay (4) theo tiếng Thái. Đối với những người Mỹ làm chung trong Tòa Đại sứ thì anh là Mr.Victor, một nhân viên Việt Nam vui tánh, nhưng hay cãi cọ, cự nự người Mỹ mỗi khi nhắc đến chiến tranh Việt Nam. Anh thường kết tội người Mỹ là thủ phạm chính giết chết cả một quốc gia Việt Nam Cộng Hòa và đẩy hàng nhiều trăm ngàn người vào những trại tập trung cải tạo của cộng sản mà điều kiện sống ở dưới mức tối thiểu nhiều chục lần. Người Mỹ đã phản bội người bạn đồng minh của họ khi bằng mọi cách ép buộc Miền Nam phải công nhận phiến cộng là một thực thể. Đã đâm sau lưng những chiến sĩ bảo vệ tự do như anh và bạn bè, đã nhẫn tâm dìm cả một dân tộc trong vòng kìm kẹp vô nhân của bọn cộng sản... Mấy người Mỹ lúc đầu còn cố tranh luận với anh; nhưng ở với nhau lâu ngày thì họ đã biết anh hay "nổi nóng" mỗi khi nhắc đến chiến tranh Việt Nam, nên chẳng ai dám khơi lại đống tro tàn này với anh nữa. Đối với đồng bào tị nạn ở các trại Sikiew, Panat Nikhom, Aranya Prathet, NW.82 hoặc Suan Plu... họ thường kêu anh là Anh Ba một cách thân mật khi có dịp tiếp xúc. Lâu ngày nên chẳng mấy ai gọi tên thật của anh... &lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;br /&gt;3.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Chiếc xe đã đi vào khu Thị trấn của quận ly Aranya Prathet. Vũ đã nhìn thấy những ngôi nhà mái ngói đỏ và nhiều cửa tiệm buôn bán sầm uất. Vũ không thể nào ngờ được một quận lỵ hẻo lánh mà phố xá buôn bán sầm uất như ở đây.&lt;br /&gt;Nước Thái được lợi thế không bị chiến tranh tàn phá nên đã tiến quá nhanh, vượt qua những nước láng giềng bằng đôi hia bảy dặm. Nếu Thái không bị tệ nạn tham nhũng, bè phái đục khoét thì họ còn tiến xa hơn nhiều.&lt;br /&gt;-Đã đến Aranya Prathet rồi. Ông có muốn ngừng lại để giải khát không? Ram Ruong hỏi Vũ.&lt;br /&gt;-Thôi khỏị Anh cho xe chạy thẳng lại văn phòng của nhân viên Tòa Đại sứ ở vùng này nhé. Còn bao xa nữa? Vũ hỏi.&lt;br /&gt;- Cũng gần đến rồi. Qua cái ngã tư kia quẹo trái thì đến căn cứ của "Pẹt Xảm Pẹt" (Tiếng Thái có nghĩa là 838) (5). Họ ở trong căn cứ đó. Ram Ruong trả lời.&lt;br /&gt;- OK. Anh cho tôi đến đó trước. Tôi cần họp với Mr.Larry về những công việc ở đây. Anh và người tài xế có thể đi chơi thăm phố xá. Khoảng 5 giờ chiều thì mình gặp nhau ở chỗ Larry. Tối mình sẽ đi ăn và nghe nhạc. Vũ nói.&lt;br /&gt;- "Khấp phổm" (6). Ram Ruong nói giọng kính cẩn vì nghe nói buổi tối được đi ăn và đi phòng trà nghe nhạc. Anh thường có thói quen ban ân sủng cho những người Thái trong toán liên lạc nên họ rất thích anh. Chiếc xe ngừng lại ở Trạm gác một trại lính. Có lẽ đây là căn cứ của đơn vị 838 mà Ram Ruong vừa nói. Người lính mặc quần áo rằn ri giơ tay chào theo kiểu nhà binh. Viên tài xế đưa cho anh ta xem tờ Sự Vụ Lệnh; sau khi nhìn sơ qua, y đứng nghiêm chào và ngoắc tay cho xe đi.&lt;br /&gt;Xe ngừng lại ở một khu nhà vòm tiền chế. Kiểu nhà này Vũ thường nhìn thấy trong các căn cứ của Quân đội Hoa kỳ ở Việt Nam. Vũ xuống xe, xách cặp bước vào căn nhà có treo tấm bảng "Office". Larry tươi cười đón Vũ ở cửa, bắt tay Vũ thật chặt. anh đã gặp và trò chuyện với Larry nhiều lần trong khuôn viên Tòa Đại sứ Mỹ ở Bangkok. Sau vài câu thăm hỏi xã giao thông thường, Larry đưa Vũ đến phòng họp và thuyết trình cho anh biết tình hình chiến sự ở biên giới Thái - Miên. Sau khi Larry thuyết trình xong, Vũ hỏi:&lt;br /&gt;- Ông có thể cho biết tình hình các trại tị nạn ở dọc biên giới và số bộ đội Việt cộng hiện ở trại nào không?&lt;br /&gt;- Ở ngay trong vùng này có các trại NW.82, Nong Chan, Phnom Chat, Ban Sangea, Nong Samet, Khao I Dang và Aran Jail. Trại NW.82 hiện chứa trên 1000 người Việt Nam; Trại Nong Chan, Phnom Chat, Ban Sangea và Nong Samet nằm trong vùng kiểm soát của 3 lực lượng kháng chiến Miên và ở mỗi trại có khoảng vài trăm người Việt, họ chưa được nhận là tị nạn và cuối cùng là Trại Khao I Dang chứa khoảng 20000 người Kampuchia, tuy nhiên trại này cũng có một số người Việt đang nằm điều trị trong Bệnh xá; còn đám bộ đội cộng sản Việt nam dù đào ngũ bỏ đơn vị trốn sang Thái hay bị bắt ngoài chiến trường đều bị giam giữ trong nhà giam của Đơn vị 506 Tình Báo Biên Giới thuộc Quân đội Hoàng Gia Thái Lan. Tôi sẽ giới thiệu ông với Đại tá Tong Đen, Chỉ huy trưởng Đơn vị 506. Larry nói.Vừa lúc đó một người Á châu trắng trẻo bước vào phòng họp. Larry đưa anh ta đến giới thiệu với Vũ:&lt;br /&gt;- Đây là Mr.Victor, nhân viên Văn Phòng Tùy viên Quân Sự của Tòa Đại sứ Mỹ ở Bangkok. Còn đây là Trung úy Sẳng, Sĩ quan liên lạc của đơn vị 506.&lt;br /&gt;Vũ đưa tay bắt viên sĩ quan Thái. Anh ta chắp hai tay trước ngực vái Vũ theo lối chào truyền thống của Thái Lan:&lt;br /&gt;- Sa wạt đi khấp (7) . Sẳng nói.&lt;br /&gt;Vũ cũng nói với Sẳng bằng tiếng Thái: "Sa wạt đi!" (Xin chào!)&lt;br /&gt;-Ồ! Ông nói được tiếng Tháỉ&lt;br /&gt;Vũ cười: "Phổm pút ba xả Thài níc nòi." (Tôi nói được một chút tiếng Thái) (8)&lt;br /&gt;Cả ba cùng cườị Quay sang Vũ, Larry nói:&lt;br /&gt;- Trung úy Sẳng sẽ giúp ông trong công tác thanh lọc số bộ đội VC ở Aran Jail.&lt;br /&gt;- Vậy thì tốt quá. Bao giờ chúng ta có thể bắt đầu được? Vũ hỏi.&lt;br /&gt;-Ngày mai được không ông? Vì bây giờ đã gần 4 giờ chiều rồi. Sẳng nói.&lt;br /&gt;- OK. Vậy đúng 9 giờ sáng mai ta sẽ gặp nhau ở đây để làm việc nhé. Trung úy có biết ở đây nhà hàng nào ngon không? Tối nay tôi xin mời quý vị đi ăn tối.&lt;br /&gt;- Ở đây có nhà hàng Valentine vừa nấu ăn ngon lại có nhạc sống. Ông có thích đến đó không? Mr.Larry và tôi thỉnh thoảng cũng đến đó ăn.&lt;br /&gt;-Chúng tôi nhờ sự hướng dẫn của Trung úy vậy. Ông là dân địa phương mà. Vũ nói.&lt;br /&gt;- Tôi cũng không phải người địa phương ở đây đâu. Nhà tôi ở Bangkok và cũng mới thuyên chuyển về đơn vị "Hà Sủn Hột" (đơn vị 506) (9) được mấy tháng thôi. Mr.Victor này! Ông đã gặp Thomy chưa nhỉ?&lt;br /&gt;- Thomy là ai? Vũ ngạc nhiên hỏi. Larry đỡ lời:&lt;br /&gt;- Thomy là một người Việt Nam làm việc cho văn phòng chúng tôi ở đây. Để tôi gọi máy báo cho hắn biết có ông đến.&lt;br /&gt;Vừa nói, Larry vừa cầm ống liên hợp của máy truyền tin gọi:&lt;br /&gt;- Eagle! Eagle!&lt;br /&gt;-  Ranger. Over&lt;br /&gt;Tiếng máy kêu rè rè. Trên tần số có tiếng trả lời: "Ranger! Eagle. Over"&lt;br /&gt;"Eagle! Anh có thể trở về main compound bây giờ không? Over."&lt;br /&gt;"Ranger! Không thể được vì chiếc xe đã đi chợ rồi. Tôi đâu có phương tiện đến đó. Over."&lt;br /&gt;"OK.Vậy anh chuẩn bị đón tiếp một người khách đặc biệt đến từ Bangkok nhé. Đó là Mr.Victor mà tôi đã nói với ông sáng nay"&lt;br /&gt;"OK. Nhận rõ 5 trên 5. Over."&lt;br /&gt;Larry gác ống liên hợp, quay sang nói với Sẳng:&lt;br /&gt;Nhờ anh chở Mr.Victor đến chỗ Thomy được không? Tôi phải đi họp với Thiếu tướng Tư lệnh Sư đoàn bây giờ.&lt;br /&gt; - Dạ không trở ngại gì. Đằng nào tôi cũng đi ngang đó mà.&lt;br /&gt;- À! Ông Victor sẽ ngủ lại đây hay ở chỗ Thomy?&lt;br /&gt;Larry quay sang Vũ, hỏi:&lt;br /&gt;- Ông muốn ở lại đây hay ở nhà Thomy? Ở đây thì đã có sẵn 3 phòng dành cho khách.&lt;br /&gt;- Thôi để Ram Ruong và tài xế ở đây; tôi ở lại chỗ Thomy.&lt;br /&gt;Nói xong Vũ bắt tay Larry, nói: Vậy tối nay mình gặp lại nhau nhé.&lt;br /&gt;Vũ nghĩ thầm: "Ở nhà của Thomy có lẽ dễ chịu hơn vì anh có thể trò chuyện bằng tiếng Việt với hắn.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;4. &lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;br /&gt;Vũ xách hành lý leo lên xe của Sẳng. Gió từ những cánh đồng trống thổi về mát rượi. Vừa lái xe, Sẳng vừa giới thiệu cảnh vật và địa hình vùng Aran cho Vũ biết. Chỉ về phía biên giới ở hướng đông, Sẳng nói:&lt;br /&gt;- Mình chỉ cách biên giới có 5 cây số đường chim bay ông có biết không? Phía kia là con đường đi Sisophon, nơi đồn trú của Sư đoàn 5 Biên phòng Việt cộng. Đa số bộ đội hiện bị giam ở Aran Jail đều thuộc đơn vị nàỵ Ngọn núi phía Bắc là Khao I Đăng, Trại tị nạn Khmer lớn nhất vùng này, có khoảng trên dưới 20000 người Miên ở trong đó. Còn phía kia là Trại NW.82 hiện đang chứa khoảng 1000 người Việt đi đường bộ. Vừa nói, Sẳng vừa đưa tay chỉ về phía trước cho Vũ thấy.&lt;br /&gt;- Có khi nào anh đi đến các trại đó không? Vũ hỏi Sẳng.&lt;br /&gt;- Có chứ. Hàng tuần tôi đến các trại để chở người tị nạn về Aran để thẩm vấn. "Hổ ná" (10) muốn đi tôi chở đi. Vũ phì cười: "Thôi! Anh đừng kêu tôi là Hổ ná. Cứ gọi là Victor được rồi."&lt;br /&gt;- Khấp phổm (6). Sẳng cho xe từ từ quẹo vào trong sân một ngôi biệt thự nằm bên tay trái đường, phía trước có treo một tấm biển gỗ lớn và hai hàng chữ Thái ngoằn ngoèọ Vũ hỏi Sẳng:&lt;br /&gt;-Tấm bảng đó nói gì vậy?&lt;br /&gt;- Ồ! Đây là căn nhà của Đại tá chỉ huy Cảnh sát "Pẹt Xảm Pẹt" (tiếng Thái là 838) (5) cho Larry thuê làm chỗ ở và làm việc của Thomy. Tấm bảng ghi tên, cấp bậc và chức vụ của Đại tá.&lt;br /&gt;Ngôi biệt thự khá xinh xắn và rộng rãi, tọa lạc trên một mảnh đất rộng. Chung quanh trồng khoảng 20 gốc xoài lớn, tàn lá xum xuê. Một người đàn ông trạc tuổi Vũ, da ngăm đen, mặc quần soọc, áo pull đứng chờ sẵn ở sân. Vũ đoán có lẽ đây là Thomy mà Larry đã nói đến.&lt;br /&gt;-Chào Trung úy Sẳng. Anh khỏe không? Thomy nói với Sẳng bằng tiếng Anh.&lt;br /&gt;- Hi! Thomy. I ‘m fine and you? Đây là Mr. Victor đến từ Bangkok.&lt;br /&gt; Vũ xiết chặt tay Thomy, nói bằng tiếng Việt: "Chào anh. Tôi nghe Larry nói nhiều về anh, nhưng nay mới được gặp"&lt;br /&gt;- Chào anh Victor. Mình vào trong nhà nói chuyện nhiều hơn.&lt;br /&gt;Sẳng đưa vali của Vũ cho Thomy.&lt;br /&gt;- Tôi có việc phải đi. Chiều nay tôi sẽ đến. Sẳng giơ tay chào Vũ và Thomy theo kiểu nhà binh rồi leo lên xe lái đi. &lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;br /&gt;5. &lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;br /&gt;Thomy tên thật là Thạch Thom, một người Việt gốc Miên, làm việc trong văn phòng của Larry đã được gần 2 năm. Anh là cựu Đại úy và phục vụ ở Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn I ở Đà Nẵng. Sau khi Miền Nam Việt Nam bị rơi vào tay cộng sản vì những thủ đoạn hèn hạ đánh lừa Mỹ và dư luận thế giới; trong lúc dân chúng Mỹ đã chán ngán cuộc chiến ở một vùng đất xa lạ; họ chỉ muốn chấm dứt ngay những sự hy sinh con em họ ở phần đất lạ lẫm và khốc liệt ấy vì thế mà Mỹ đã phản bội quân dân Miền Nam, nhắm mắt làm ngơ trước những khổ đau chồng chất của nhiều chục triệu quân dân Miền Nam; để cho cộng sản cưỡng chiếm Miền Nam vào ngày 30 tháng 4 năm 1975. Thomy cũng như bao nhiêu quân cán chính VNCH khác, bị tập trung cải tạo một thời gian dài. Sau khi ra khỏi nhà tù cộng sản, nhờ là người Việt gốc Miên nên anh đã đi tìm tự do bằng đường bộ vượt qua Kampuchia năm 1980. Khi sang đến Thái Lan, anh được Larry lấy ra khỏi trại và cho làm việc ở văn phòng này từ đó đến nay. Cũng nhờ gốc gác là người Việt gốc Miên, nói thông thạo tiếng Khmer, nên Thom đã móc nối với người Miên để họ về Việt Nam mang được 2 đứa con trai sang với Thom. Vì đã ở Thái hơn 2 năm, anh rất muốn đi dịnh cư ở Mỹ để 2 con có cơ hội học hành, nhưng tìm mãi chưa có người thay thế. Thomy khẩn khoản nhờ Vũ có dịp đi nhiều Trại, gặp gỡ nhiều anh em có khả năng, kiếm giúp anh một người ra làm việc thay cho anh vì anh đã có tên trong danh sách đi Hoa Kỳ vào tháng sau... Việc kiếm người ra làm việc khó khăn vì đòi hỏi kẻ ứng tuyển phải có trình độ Anh ngữ thông thạo, có khả năng về điều hành, có trí thông minh để có thể thẩm vấn tù binh VC, không tham lam và không có thành tích xấu trong quá khứ. Chính vì thế sau này Vũ đã giới thiệu nhiều anh em ra làm việc như: Nguyễn Ngọc Thuận, Vũ Ngọc Bách, Bùi Minh Ngọc, Nguyễn Văn Hồng, Tôn Thất Hồng (12), v.v... ra làm việc ở văn phòng này.&lt;br /&gt;Vũ và Thom trò chuyện với nhau thật lâu. Dù mới gặp nhưng tưởng chừng như đã quen nhau từ nhiều năm trước vì cái tình "huynh đệ chi binh" và vì cùng hoàn cảnh tù đầy cải tạo, nên trò chuyện hoài không dứt. Bao nhiêu chuyện vui buồn đời quân ngũ lại được dịp trao đổi với nhau, bao nhiêu khổ ải nhục nhằn trong những trại biến hình của cộng sản lại có cơ hội tràn ra khỏi miệng, những kỷ niệm xót đắng của kiếp bại binh trong đạ ngục đỏ lại được hai người kể lại cho nhau nghe tưởng chừng không dứt. Bất chợt như nhớ ra chuyện gì, Thom nói với Vũ giọng khẩn khoản:&lt;br /&gt;- Có một chuyện này không biết ở Bangkok anh đã nghe chưa? Hiện tại trong Aran Jail có giam một Trung úy Phi công VNCH. Tay này bị Thái họ giam giữ khoảng 9 tháng nay, không cho ai tiếp xúc. Tôi cũng chưa được gặp. Người Thái cho rằng anh ta làm gián điệp cho Cộng sản Việt Nam nên biệt giam ở khu đăc biệt, bị "đeo kiềng" (13) 24 trên 24.&lt;br /&gt;- Tên anh ta là gi`? Vũ tò mò hỏi.&lt;br /&gt;- Lý Tống. Ông Đại tá Tong Đen, Chỉ huy trưởng Đơn vị 506 Tình Báo Biên Giới Thái gửi hồ sơ sang nhờ Mr.Larry gửi về Hoa Thịnh Đốn để sưu tra lý lịch của Tống. Trong đó chỉ ghi vỏn vẹn có mấy hàng: tên, cấp bậc và không có số quân. Anh nghĩ coi, có thằng lính nào lại không có số quân? Không có số quân thì làm sao sưu tra được? Vì vậy mà kết quả gửi về từ Hoa Thịnh Đốn là "Trong Quân Lực VNCH và Không Quân VNCH không có ông Đại úy nào tên Lý Tống mà không có số quân..." Vừa nói, Thomy vừa lôi trong ngăn kéo ra một xấp hồ sơ đánh máy, có bút phê bằng tiếng Thái và tiếng Anh cho Vũ coi.&lt;br /&gt;Vũ cầm lấy đọc. Đây là Bản Cung Từ Tù Binh do Đơn vị 506 thiết lập được dịch sang tiếng Anh. Vũ thấy kẹp chung còn có một tấm card 3x5 loại thường lưu trữ hồ sơ và sưu tra lý lịch. Anh đọc được những chi tiết sau:&lt;br /&gt;-True name: LÝ TỐNG&lt;br /&gt;-Rank: Captain&lt;br /&gt;-Unit: VNAF (Vietnam Air Force)&lt;br /&gt;-Serial Number: None&lt;br /&gt;Bên cạnh những hàng chữ này là bút phê bằng tiếng Thái chằng chịt, ngoằn ngoèo của Tong Đen. Vũ hỏi: Sao Thomy không tìm cách cứu hắn?&lt;br /&gt;- Tôi đã tìm mọi cách mà không được. Ông Tong Đen thì giấu không cho tiếp xúc, mà Larry thì thấy kết quả sưu tra có dấu nghi ngờ nên y không interest lắm; mỗi lần họp tôi nêu việc này ra đều bị hắn gạt đi. Victor ở Bangkok, quen nhiều xếp lớn, thử can thiệp cho Tống coi. Tôi coi như hết cách.&lt;br /&gt;- Tôi sẽ cố gắng hết sức mình. À! Thomy có bản lý lịch thật chính xác của Tống không? Tôi rất cần; có nó mới nói chuyện với mọi người được.&lt;br /&gt;- Không! Tên Tong Đen giấu kỹ không cho tiếp xúc nên đâu biết lý lịch chính xác của anh ta.&lt;br /&gt;Vũ trầm ngâm suy nghĩ. Anh vẫn thường giúp đỡ các anh em cựu quân nhân ở các Trại Tị Nạn trên đất Thái khi có dịp đến các Trại, dù chẳng hề quen biết họ. Dù sao thì cũng còn chút tình đồng đội, còn chút máu lính trong người nên khi thấy các anh em trong cảnh cùng quẫn, Vũ chẳng thể làm ngơ. Huống gì anh chàng phi công này còn bị giam cầm trong nhà giam của một dân tộc khác, mà dân tộc này từ xưa vốn mang nặng một mối nợ lớn đối với dân tộc anh, đất nước anh. Sau năm 1975, món nợ này càng chồng chất thêm khi họ làm ngơ bao che, dung túng bọn hải tặc hoành hành trên vùng Vịnh Thái Lan; chỉ cần nhìn vào con số hơn 500 ngàn thuyền nhân đã vùi thây dưới biển sâu chỉ vì lũ hải tặc Thái man rợ cướp của, hiếp dâm và giết người phi tang và bọn chúng được chính quyền Thái làm ngơ mặc cho chúng cướp, giết... Con số này là do Cao Ủy Liên Hiệp Quốc thống kê ra được từ lời khai báo của những người còn sống sót vào năm 1982; còn bao nhiêu chiếc thuyền chết sạch thì lấy ai mà báo cáo số người tổn thất? Con số này đã đủ nói lên cái tội ác ghê gớm của xứ này đối với dân tộc anh. Giờ đây một quân nhân VNCH sau bao khổ ải, gian nguy trên đường vượt thoát thiên đường cộng sản lại bị giam cầm trong tay họ thì làm sao anh ngồi im cho được? Nhưng làm thế nào để cứu anh chàng này khi trong tay chẳng có một tí manh mối nào, dữ kiện nào để dùng làm bằng chứng chứng minh anh ta là quân nhân VNCH, trong lúc đó người Thái không chịu cho tiếp xúc? Vũ chợt mỉm cười vì anh vừa nghĩ ra một phương cách may ra có thể cứu được Tống. Anh hỏi Thomy:&lt;br /&gt;-Hàng ngày anh có vào trong 506 làm việc hoặc lấy tù binh bên đó về đây làm việc không?&lt;br /&gt;- Có chứ. Bên 506 chuyển sang cho mình một danh sách những cán binh VC đào ngũ hoặc bị bắt làm tù binh ngoài mặt trận mà họ đang giam giữ ở đó. Mình chở về đây làm việc một vài ngày.&lt;br /&gt;- Như vậy thì được rồi. Kỳ này tôi xuống đây để thanh lọc đám cán binh VC mới bị bắt trong mấy tuần vừa qua.&lt;br /&gt;Tôi sẽ ở đây vài ngày; hy vọng sẽ có cách cứu Tống. - Như vậy thì tốt quá. Mong anh thành công. Anh có thể nói cho tôi nghe anh làm cách nào không?&lt;br /&gt;- Ồ! Cũng chẳng khó gì. Ngày mai tôi sẽ thanh lọc đám bộ đội phải không? Tôi sẽ nhắn bọn chúng về nói Tống viết cho tôi một bản lý lịch; sau đó tôi sẽ yêu cầu Larry sưu tra ở Trường Huấn Luyện Không Quân ở Hoa Kỳ nơi Tống tu nghiệp; chắc chắn những chi tiết ấy sẽ phải có. Khi đó tôi về Bangkok sẽ nói chuyện với văn phòng DAO và cấp chỉ huy của Tong Đen là ông Tướng Sud Sai Chỉ Huy Trưởng Đơn vị 309 Quân Báo để nhờ họ giúp một tay. Tôi có giao tình với họ và giúp họ nhiều chuyện, nay nhờ lại họ chắc cũng dễ...&lt;br /&gt;Thomy vỗ tay, reo lên:&lt;br /&gt;- Hay quá. Như vậy thì Tống có hy vọng được cứu rồi. &lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;br /&gt;6. &lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;br /&gt;Ngày hôm sau, khi phỏng vấn Bùi Văn Tranh, Hạ sĩ thuộc đơn vị súng cối 82 ly của Sư đoàn 5 Việt cộng trú đóng tại Sisophon; Vũ đã giao cho Tranh một lá thư nhỏ cầm về cho Tống. Lá thư được giấu kỹ trong gấu áo của Tranh. Vũ dặn đi dặn lại Tranh là phải tuyệt đối giữ kín không để người Thái biết và Tranh phải hứa sẽ giao tận tay cho Tống. Hàng ngày ở chung trong nhà giam Aranya Prathet, Tống thường dạy tiếng Anh cho các em bộ đội VC bị giam chung nên được các em quý mến. Vũ cũng gửi vào trong nhà giam cho các em vài cây thuốc lá Samit, vài gói kẹo bánh. Đặc biệt gửi cho Tống một cây thuốc và một bộ quần áo.&lt;br /&gt;Nguyên văn lá thư viết cho Tống như sau:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;em&gt;"Tống, Tôi đang tìm cách cứu Tống ra khỏi nhà giam. Tống hãy viết cho tôi một bản lý lịch thật đầy đủ chi tiết nhé. Xong cứ giao cho Tranh chuyển lại cho tôi.&lt;br /&gt;&lt;/em&gt;Victor. 20/9/82"&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Đa số các em bộ đội bỏ ngũ bị giam ở đây đều thuộc thành phần con em Miền Nam có cha anh bị đi cải tạo. Sau khi cộng sản chiếm Miền Nam, các em bị bắt buộc đi nghĩa vụ quân sự của bọn chúng khi còn nằm trong lứa tuổi 18 - 25; nhưng khi sang đến vùng biên giới Thái&lt;br /&gt;- Miên, các em đã tìm cách đào ngũ chạy sang xin tị nạn ở Thái với hy vọng các nước tự do sẽ mở rộng vòng tay nhân ái cho các em định cư ở một nước tự do nào đó. Số phận các em thật hẩm hiu vì các em đến Thái vào lúc tình thương con người đã kiệt cạn, mỏi mệt với gánh nặng tị nạn ngày một thêm đông; lòng nhân đạo của thế giới đã đã cạn khô nên không nước nào thèm dòm ngó đến các em. Trong khi Thái Lan lúc nào cũng lo sợ bị CSVN thôn tính nên họ trở thành nghi kỵ và chèn ép mọi người có gốc Việt Nam, bất kể họ thuộc thành phần nào.&lt;br /&gt;Người Thái đẩy đồng bào tị nạn Việt Nam vào các trại giam với nhiều lớp hàng rào kiên cố và giam trong những nhà có song sắt như nhà tù... Số bộ đội VC thì bị giam ở Aranya Prathet thuộc tỉnh Prachin Buri; còn số thuyền nhân thì bị giam ở Trại Sikiew, thuộc tỉnh Nakhorn Raschasima. Các em bộ độ VC bị chính quyền giam trong Trại Aran một thời gian dài dưới sự quản thúc nghiêm ngặt của đơn vị 506; không biết ngày nào mới được chuyển sang các Trại Tị Nạn để được hưởng sự bảo trợ của Cao Ủy Tị Nạn Liên Hiệp Quốc; khi đó họ mới có tư cách để được các Phái đoàn Di Trú của các quốc gia trên Thế Giới phỏng vấn cho đi tái định cư ở một nước thứ 3. Nhiều em được chuyển từ Aran lên Trại Transit Center Phanat Nikhom thuộc tỉnh Chonburi; nhưng nằm chờ ở đó hết năm này sang năm khác mà cũng không được nước nào nhận cho đi định cư. Thỉnh thoảng mới có một vài em được Pháp hoặc Canada nhận đi theo diện nhân đạo; còn phần lớn phải nằm chờ ở Thái nhiều năm dài.&lt;br /&gt;Qua sự tiếp xúc với một số em bộ đội đào ngũ ở tù chung với Tống ở Aran; cộng với sự nhận xét và ước đoán tinh tế của một Sĩ quan QLVNCH từng phục vụ lâu năm trong ngành Quân Báo, Vũ đã hiểu được một phần nào uẩn khúc và nguyên nhân chính đưa đến việc người Thái khép tội Tống làm gián điệp cho Cộng sản Việt Nam. Theo lời kể của các em thì vào ngày 25 tháng 1 năm 1982, có một người Việt tên là Lê Văn Tống vượt thoát bằng đường bộ qua ngã Kampuchia, đến Thailand. Anh đã vượt qua các "check point" (14) của nhiều lực lượng an ninh Thái để vào tận thị xã Aranya Prathet, trình diện với văn phòng Hồng Thập Tự Quốc Tế xin được hưởng qui chế tị nạn. Cơ quan này không có thẩm quyền trong việc tiếp nhận người tị nạn, nên Tống được giao qua đồn cảnh sát Thái và anh được đưa về đơn vị 506 để điều tra. Lúc đầu anh được Thượng sĩ Ạt thẩm vấn, nhưng anh không chấp nhận bị thẩm vấn bởi 1 Hạ sĩ quan Thái nên đòi gặp giới chức thẩm quyền cao hơn; vì vậy đích thân Đại tá Tong Đen xuống phụ trách thẩm vấn anh. Tong Đen là một người mập, lùn; có nước da đen; y đã từng phục vụ ở đơn vị Thái Lan trú đóng ở căn cứ Bear Cat Long Thành nên nói được tiếng Việt. Quen thói hống hách quát nạt các em bộ đội đào ngũ, Tong Đen đã đập bàn quát tháo khi tra hỏi Tống vì sao có thể vượt thoát qua các "check point" mà không bị phát giác? Ai đã dẫn đường cho Tống vượt biên giới Thái? Tại sao Tống có tờ 20 Bath (tiền Thái) trong túi, trong khi tiền này mới phát hành được một tuần? Ai đã cho Tống tiền? v.v... và v.v…&lt;br /&gt;Tống bình tĩnh trả lời Tong Đen từng điểm một. Anh khẳng định không có ai dẫn đường cho mình mà tự ý tìm đường vượt qua biên giới bằng cách xuyên qua rừng và băng qua ruộng trong đêm tối để sang đất Thái. Còn tiền thì anh đã đổi ở Battambang (một tỉnh nằm ở Tây Bắc trong nội địa Kampuchia) cách đây một tháng... Đây chính là điểm mâu thuẫn mà Tong Đen nghi ngờ vì đồng tiền mới được phát hành bên Thái có 1 tuần. Khi thấy Tong Đen đập bàn, quát tháo Tống liền phản đối:&lt;br /&gt;"Tôi là một chiến sĩ tự do, chống cộng sản. Ông cũng là một chiến sĩ tự do, chống cộng sản. Trước đây ông đã từng sang nước tôi chiến đấu chống cộng sản; ông với tôi là đồng minh với nhau, là chiến hữu với nhau. Tôi không phải là cộng sản, ông không thể coi tôi như tội phạm mà thẩm vấn, quát nạt. Tôi từ chối trả lời khi ông còn giữ thái độ đó". Rồi anh ngồi im mặc cho Tong Đen lồng lộn tức tối.&lt;br /&gt;Tong Đen liền kêu lính giải anh xuống nhà giam có song sắt và tặng cho anh cặp kiềng đeo vào chân với một sợi giây xích dài hàn dính với một cục sắt tròn nặng như tảng đá. Trong bản cung từ phúc trình cho cấp trên, y đã báo cáo Tống thuộc thành phần "Tình nghi là gián điệp của cộng sản VN, rất ngoan cố; cần giam giữ để điều tra và không phổ biến rộng rãi sang bên Cao Ủy Tị Nạn LHQ". Sau đó Tong Đen đã cố tình hại chết Tống bằng cách gửi những chi tiết sai sang nhờ Tòa Đại sứ Mỹ sưu tra lý lịch. Y đã không gửi tên thật của anh là Lê Văn Tống với đầy đủ cấp bậc, số quân, đơn vị mà chỉ gửi bút hiệu Lý Tống khi viết báo và cấp bậc Đại Úy mà không có số quân để chắc chắn với những chi tiết sai ấy, kết quả sưu tra sẽ khiến Tống không còn đường thoát. Y sẽ căn cứ vào đó để trình lên thượng cấp xác quyết Tống là gián điệp cho cộng sản VN và cũng chính vì vậy nên những người Mỹ làm việc ở Aranya Prathet như Larry, như Merle, như Stain... không ai thiết tha việc giải cứu cho Tống.&lt;br /&gt;Sáng sớm ngày hôm sau, Vũ đã có trong tay một bản lý lịch thật đầy đủ chi tiết do Bùi văn Tranh giấu mang sang khi được Trung úy Sẳng chở sang nhà Eagle của Thomy. Những chi tiết chính xác như sau:&lt;br /&gt;- Họ và tên thật: LÊ VĂN TỐNG&lt;br /&gt;- Bút hiệu: Lý Tống (viết bài cho các tờ báo của binh chủng Không Quân như Gió Cát, Phù Sa, Lý Tưởng...)&lt;br /&gt;- Năm sinh: 1946&lt;br /&gt;- Cấp bậc và chúc vụ: Trung úy Hoa tiêu Ạ37, Phi đội trưởng.&lt;br /&gt;- Đơn vị: Phi đoàn 548/ Sư đoàn 2 Không quân trú đóng tại Căn cứ 20 Chiến thuật Không quân. Số quân: 66/600175&lt;br /&gt;- 1/1965 - 12/1965: Air Cadet khóa 65A (cùng khóa với anh hùng Thiếu ta Trần thế Vinh)&lt;br /&gt;- 1/1966 - 5/1966: Air Cadet/ Lackland English School ở San Antonio, Texas.&lt;br /&gt;- 5/1966 - 7/1966: Bị trả về Việt Nam vì lý do vô kỷ luật (đánh một Sinh viên Sĩ quan khóa đàn anh tên Trọng). Bộ Tư Lệnh KQ Sàigòn. Giải ngũ&lt;br /&gt;- 10/1966 - 2/1967: Thông dịch viên RMK-BRJ ở số 8 Phan Bội Châu, Qui Nhơn&lt;br /&gt;- 4/1967 - 6/1968: Phụ tá Hành chánh + Programmer PA&amp;amp;E Tân Sơn Nhất&lt;br /&gt;- 6/1968 - 12/1968: Sinh viên Sĩ quan Khóa 4/68 Thủ Đức.&lt;br /&gt;- 1/1969 - 6/1969: Chuẩn úy. Xin gia nhập lại binh chủng Không quân và được học Khóa 1/69 Anh Ngữ tại Trường Anh Ngữ Không quân Đồng Khánh, Chợ Lớn.&lt;br /&gt;- 6/1969 - 6/1970: Khóa 33/66 Trường Phi Hành Trung Tâm Huấn Luyện KQ Nha Trang.&lt;br /&gt; - 6/1970 - 5/1973: Thiếu úy hoa tiêu L.19 và U.17 của Phi đoàn 122/ Sư đoàn 4 KQ Cần Thơ&lt;br /&gt;- 5/1973 - 4/1975: Trung úy hoa tiêu A.37/Phi đoàn 548/ Sư đoàn 2 KQ/ Căn cứ 20 KQ Chiến thuật Phan Rang.&lt;br /&gt;- 5/4/1975: Bị bắn rơi ở Phan Rang và được truy thăng "Cố Đại úy" hy sinh tại chiến trường.&lt;br /&gt;- 4/1975 - 12/7/1980: Tù binh ở các trại:&lt;br /&gt;* Lam Sơn, Tổng Trại 6 Nha Trang&lt;br /&gt;* Trại cải tạo 52, 53 Tổng Trại 5 Tuy Hòa&lt;br /&gt;- 12/7/1980: vượt ngục trốn về Sàigòn&lt;br /&gt;- 23/9/1981: Vượt biên qua ngã Gò Dầu Hạ - 25/9/1981: bị bắt tại ga xe lửa Nam Vang và bị giam tại Trại tù 7708 thuộc A.50 (15) ở Nam Vang&lt;br /&gt;- 7/10/1981: vượt ngục trại tù 7708, trốn đi Kampong Chnang.&lt;br /&gt;- 10/1981 - 1/1982: Đánh cá tại Đài Côn (tức Chí Lức) Lô 13B Biển Hồ&lt;br /&gt;- 20-1-1982: Rời Kampuchia bằng xe đạp, trốn sang Thái Lan.&lt;br /&gt;- 25/1/1982: Trình diện Hồng Thập Tự Quốc Tế tại Thị xã Aranya Prathet và bị chuyển giao vào Trại giam Aran.&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;7. &lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;br /&gt;Trên đường trở về Bangkok sau 3 ngày làm việc ở Aranya Prathet với một xấp hồ sơ dầy cộm trong cặp xách Samsonite; Vũ cảm thấy nhẹ nhõm cả người vì giải quyết mấy trăm hồ sơ trong vòng 3 ngày ngắn ngủi mà khi đi anh tưởng chừng phải làm cả 2, 3 tuần lễ mới xong; đó là nhờ có sự tiếp tay của Thomy. Hơn nữa khi được rời xa cái vùng Aran hoang vắng và chỉ có nắng như thiêu đốt anh cảm thấy dễ chịu hơn.&lt;br /&gt;Nhưng cái vui nhất của anh là có được bản lý lịch đầy đủ và chính xác của Lê Văn Tống. Những chi tiết trong đó có thể giúp anh cứu được anh chàng hoa tiêu Không quân này ra khỏi lao tù tự do. Vũ ôm chặt chiếc cặp trong tay như sợ rằng bản lý lịch của Tống sẽ vụt bay theo cơn gió lộng lùa vào trong xe qua khung của kính mở hé. Anh cảm thấy sung sướng vì sắp làm được một công việc có ích, giúp cho một người chiến hữu dù chưa hề biết mặt nhau. Mặc! Đâu cần phải quen biết nhau mình mới giúp đỡ được nhau. Không biết cái chất lính trong con người của anh nó như thế nào mà mỗi khi gặp được một người cựu quân nhân, một người cựu tù nhân cải tạo dù không quen, anh vẫn có những cảm tình quyến luyến như có sự ràng buộc vô hình nào đó níu anh lại. Anh có thể ngồi nói chuyện với những người bạn mới này hàng hai ba giờ đồng hồ không dứt và anh vẫn tự động giúp đỡ trong khả năng của anh. Giúp mà không cần họ biết đến, giúp mà không cần được cảm ơn, Chỉ cần thấy các anh em vui là Vũ cảm thấy yên ổn trong lòng.&lt;br /&gt;Anh muốn con đường dài kia ngắn lại để anh có thể phóng vào Tòa Đại sứ Mỹ ở Bangkok trước giờ các viên chức nghỉ việc để còn đánh ngay một công điện sang Hoa Thịnh Đốn nhờ sưu tra lý lịch của Tống theo cái bản anh đang có trong tay.&lt;br /&gt;Anh hy vọng về đến nơi trước khi trời tối; nhưng càng mong mỏi, chiếc xe dường như càng chạy chậm hơn và con đường như càng dài thêm, xa hơn. Thời gian như cũng đồng lõa với không gian, đi nhanh hơn thường ngày làm Vũ thêm bồn chồn, mong đợi. Vũ không còn cái háo hức ngắm phong cảnh hai bên đường như thường lệ mỗi lần đi xa bằng đường bộ.&lt;br /&gt;Anh ngồi im trong xe, miên man nghĩ về trường hợp Lê Văn Tống... Từ sau ngày Miền Nam bị bức tử một cách đau đớn; Quân, Dân, Cán, Chính của Việt Nam Cộng Hòa đã phải chịu trăm ngàn cay đắng, khổ ải, truân chuyên; riêng người quân nhân tên Lê Văn Tống thì lại trở thành"Cố Đại Úy" dù vẫn còn sống sờ sờ, bị giam cầm đầy ải ở nhiều nhà giam khác nhau và bây giờ lại bị kết án là gián điệp của kẻ thù ngay trên phần đất tự do... Còn nghiệt ngã nào hơn?&lt;br /&gt;Con đường có dài hơn, xa hơn; cuối cùng thì Vũ vẫn về đến Bangkok. Buổi tối nên thành phố rực rỡ trong ánh đèn muôn màu trông thật đẹp. Giờ này nhân viên các phòng sở đã nghỉ việc và David Campbell, xếp trực tiếp của Vũ chắc cũng đã về nhà. Thôi đành đợi đến sáng mai mới vào Tòa Đại sứ để gửi bản sưu tra vậy.&lt;br /&gt;Cách hay nhất bây giờ là về nhà tắm nước nóng cho trôi đi bụi đất biên giới, tỉnh táo sau một chặng đường dài mỏi mệt và nghỉ ngơi cho khỏe khoắn...&lt;br /&gt;Khoảng 8 giờ tối, Vũ gọi điện thoại cho Đại tá Prachet (tiếng Thái đọc là Pra Chệt), Tham Mưu Trưởng của Đơn vị 309 Quân Báo trò chuyện để tìm cách hỏi ông về trường hợp Lê Văn Tống. Từ ngày làm việc ở Bangkok, Vũ vẫn giữ mối giao hảo thân tình với Đại tá Prachet. Anh quen ông do sự giới thiệu của David Campbell. Trong công việc, Đại tá Prachet rất mến phục khả năng chuyên môn và những ước đoán tình hình một cách chính xác của Vũ. Nhất là sau vụ điều tra chiếc phi cơ Antonow 26 của cộng sản VN bị crash landing xuống quận Sakaeo hồi tháng 2/1982; Vũ đã phát giác ra cả một kế hoạch lớn của cộng sản VN trên đất Thái trong khi các cơ quan An ninh của Thái đã bó tay. Đại tá Prachet càng nể nang Vũ hơn và chơi thân với anh hơn; khi gặp những chuyện liên quan đến CSVN mà ông bí lối, ông thường vấn kế của Vũ. Ông tỏ vẻ mừng rỡ khi nghe Vũ gọi lại. Vũ cũng trình bày sơ lược câu chuyện "làm gián điệp" của Tống và sự hiểu lầm của Tong Đen cho ông nghe. Vũ hỏi ông: "... liệu khi anh gom đủ tài liệu chứng minh Lê Văn Tống là một cựu Sĩ quan KQ VNCH thì ông có thể can thiệp để thả Tống được không?" Ông đã sốt sắng hứa sẽ giúp hết mình trong khả năng của ông. Vũ cảm ơn và hứa sẽ có đầy đủ bằng chứng đưa cho ông. Anh gác máy điện thoại mà nghe lòng nhẹ nhõm vì ít nhất cũng đã kiếm được người ở phía Thái Lan tiếp tay.&lt;br /&gt;Sau khi gửi tờ lý lịch của Tống về Hoa Thịnh Đốn để sưu tra; trong khi chờ đợi kết quả sưu tra, Vũ lại đi xuống các Trại Tị nạn Sikiew thuộc Tỉnh Nakhorn Ratchasima và Trại Phanat Nikhom thuộc tỉnh Chonburi để tiếp xúc với các anh em cựu quân nhân ở các Trại ngõ hầu thu thập thêm tài liệu về Tống. Trại Sikiew đúng ra là một nhà giam trực thuộc Bộ Nội Vụ để giam giữ những người Việt kiều hoạt động cho cộng sản trên đất Thái, nên nhà có song sắt và ngăn thành từng xà lim nhỏ, mỗi phòng đều có song sắt và cửa riêng. Việt kiều sinh sống trên đất Thái từ năm 1945, đa số đều theo phía Cộng sản VN, họ tôn sùng Hồ Chí Minh và trong làng, trong nhà đều có hình hoặc tượng HCM; chính vì vậy người Thái rất ghét người Việt và họ chèn ép đủ mọi cách, trẻ em bị cấm không được học hành lên cao hơn bậc tiểu học, và bị cấm nhiều nghề không được làm. Sau ngày 15-8-1981, khi chính phủ Thái ban hành chính sách "Ngăn Đe Nhân Đạo" nên tất cả các thuyền nhân cặp vào bờ biển Thái Lan đều bị tập trung vào nhà giam Sikiew và họ ngăn cấm không cho các Phái Đoàn Di Trú của các quốc gia đệ tam vào lập hồ sơ phỏng vấn. Còn Trại Panat Nikhom là một Transit Center, nơi tập trung dân tị nạn Việt, Miên, Lào, Hmong đã được thanh lọc nằm chờ lập thủ tục đi định cư ở các nước thứ ba.&lt;br /&gt;Vũ đã gặp gỡ nhiều anh em cựu quân nhân để xác nhận lý lịch của Tống như: Võ Thành Sô, Nguyễn Bảy, Hoàng Văn Mai, Vũ Đình Ngọc v.v... (16) Ngoài ra anh còn gặp được nhiều người khác hoặc là bạn học thời còn học sinh, hoặc là bạn cùng khóa Không Quân, hoặc là bạn cùng tù... Họ đã cung cấp cho Vũ nhiều tài liệu và chi tiết xác đáng về Tống để phối kiểm với bản lý lịch của Tống. Anh đã đúc kết thành một bản phúc trình đầy đủ để chứng minh Lê Văn Tống hay Lý Tống thì chỉ là một người sĩ quan Không quân VNCH. Khi trở về Bangkok, Vũ nhận được bản kết quả sưu tra từ Hoa Thịnh Đốn cho thấy lý lịch của Tống đúng 100%; đồng thời anh cũng được lệnh ra biên giới Aranya Prathet tạm thay Thomy đã rời Thái Lan đi định cư Hoa Kỳ. David hứa là anh chỉ phải ở đó ngắn hạn trong khi chờ kiếm người. Lâu hay mau tùy thuộc anh kiếm được người làm sớm hay trễ... Vũ nghỉ ngơi mấy ngày để thu xếp đồ đạc và trả lại ngôi biệt thự trên đường Sutvichai thuộc Quận 9 Bangkok chuẩn bị di chuyển ra Aranya Prathet. Hồ sơ Lý Tống đã được anh hoàn tất với đầy đủ chứng từ của các nhân chứng. Anh gửi 1 bản sao cho văn phòng Di trú Bangkok, cơ quan JVA, Bộ Tư Lệnh Quân Đội Thái, Đơn vị 309 Quân Báo... Ngoài ra anh còn sao riêng 1 bản cho Đại tá Prachet nhân dịp mời ông đi ăn tối ở trong một nhà hàng Tây sang trọng dành cho ngoại kiều trên đường Sukhumvit.&lt;br /&gt;Sau khi xem xong hồ sơ, Prachet nói với Vũ:&lt;br /&gt;- Đây là một hồ sơ rất đầy đủ để chứng minh về Lê Văn Tống; nhưng Mr.Victor à! Ông có nghĩ đến trường hợp VC cho một người của họ giả dạng Lê Văn Tống, học thuộc lòng tất cả những chi tiết của lý lịch cá nhân Lê V.Tống không? Có thể lắm chứ phải không?&lt;br /&gt;-Tôi hoàn toàn đồng ý với Đại tá. Vũ đáp. Đây mới chỉ là bước đầu, tôi chỉ đi tìm tài liệu và chứng nhân để xác nhận có một Trung úy Lê Văn Tống, hoa tiêu A.37 của Không Lực VNCH. Bước thứ hai, tôi phải nhờ sự giúp đỡ của Đại tá. Xin ông ra lệnh cho Đại tá Tong Đen cho chúng tôi một tấm hình của Tống. Tôi sẽ đưa cho các nhân chứng để xác minh một cách chắc chắn.&lt;br /&gt;- OK. Tôi sẽ điện cho Tong Đen ngày mai. Ông sẽ có tấm hình của Tống trong vài ngày sắp đến.&lt;br /&gt;Sau đó hai người nói chuyện vãn với nhau về đủ thứ chuyện từ tình hình chính trị thế giới cho đến những hoạt động quân sự của VC tại vùng biên giới Thái - Miên trong thời gian vừa qua và ông nhờ Vũ ước đoán tình hình trong những ngày sắp tới... Với những kinh nghiệm máu và sự hiểu biết về VC, Vũ đã phân tích cho Đại tá Prachet về cái thế của Thái Lan trong công cuộc đấu tranh ngăn chặn mộng bành trướng của CSVN...&lt;br /&gt;Lúc chia tay, Đại tá Prachet nắm thật chặt tay Vũ nói:&lt;br /&gt;- Tôi nghĩ rằng ông là một người quá tốt với bạn bè. Người nào được làm bạn với ông quả là có diễm phúc vì sẽ được ông giúp đỡ hết mình khi cần đến.&lt;br /&gt;Vũ cười: - Xin cảm ơn Đại tá. Thực ra tôi chỉ làm những gì lương tâm tôi thấy là phải, là đúng. Tôi chưa hề quen anh Tống, cũng không hề biết mặt anh ta và anh ta cũng chưa hề biết mặt tôi. Tôi chỉ thấy sự oan ức của anh nên tìm mọi cách giúp đỡ vậy thôi.&lt;br /&gt;- Hy vọng rằng sau này ông cũng coi tôi như một người bạn nhé. Cảm ơn ông về bữa ăn tối nay. Chúc ông ngủ ngon và thành công.&lt;br /&gt;- Vâng! Xin chào Đại tá. Chúc Đại tá một đêm an lành. Cho tôi gửi lời thăm bà và các cháu nhé.&lt;br /&gt;Chia tay với Prachet xong, Vũ không vội trở về nhà mà thả bộ đi dọc con đường Sukhumvit. Đây là một con đường chính nằm giữa trung tâm thành phố và là khu dành cho người ngoại quốc nên được xây cất khang trang với các cửa tiệm lớn, các quán bar, tiệm rượu, tiệm cà phê và những nhà hàng sang trọng của đủ mọi quốc gia trên thế giới. Gió vi vu thổi trên cao làm tóc Vũ bay tung. Ánh đèn đường nhòe nhoẹt hắt chiếc bóng Vũ ngả dài trên hè phố. Người qua kẻ lại vẫn tấp nập, xe gắn máy chen chúc trên đường với tiếng nổ dòn tan của đủ loại máy hòa lẫn với mùi xăng khét lẹt, tạo thành một không khí thành thị náo nhiệt. Tự dưng anh cảm thấy cô độc và lạc lõng vô cùng. Anh quay trở lại bãi đậu xe.&lt;br /&gt;Người tài xế của Tòa Đại sứ vẫn ngồi trong xe đọc "nắng sử" (17), thấy anh bước lại vội vàng nhẩy xuống mở cửa xe cho Vũ. Ngồi vào xe, anh ra lệnh:&lt;br /&gt;- Cặp ban! (Về nhà!)&lt;br /&gt;- Khấp phổm! (Dạ! Thưa ngài)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;8. &lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;br /&gt;Trung tuần tháng 10/1982, Vũ chính thức rời Bangkok lên đường đi Aranya Prathet; y hệt như ngày xưa khi còn trong quân ngũ "đáo nhậm đơn vị mới..." vậy. Thomy đã đi Mỹ được hơn 3 tuần lễ, căn nhà Eagle bỏ trống từ ngày đó nên cỏ dại mọc chi chít.&lt;br /&gt;Vũ cho sửa sang lại ngôi biệt thự chỗ Thomy; ngay văn phòng làm việc anh cho vẽ một con chim ó trắng xòe cánh dũng mãnh và hàng chữ "White Eagle" bay bướm phía dưới; ngoài vườn anh cho trồng thêm nhiều hoa và sửa sang lại những gốc xoài. Anh lấy đám bộ đội trong nhà giam Aran ra cho đào một cái hồ có cất nhà thủy tạ phía sau vườn để chiều chiều ngồi uống rượu ngâm thơ, ngắm trăng... Mùa xoài năm ấy cây nào cây nấy nặng trĩu trái, oằn cành. Vũ cho hái được mấy cần xế đem chở ra trại NW.82 cho đồng bào tị nạn. Vũ cũng gửi cho Tống một lá thư ngắn cho biết công việc cứu Tống tiến triển khả quan và hy vọng một thời gian ngắn nữa thì Tống sẽ được thả. Tống đã gửi cho Vũ một lá thư ngắn ngỏ lời cảm ơn; có lẽ Tống nghĩ Victor và Anh Ba là hai người khác nhau nên đã viết "cảm ơn anh và anh Ba..." Nguyên văn lá thư như sau: &lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;br /&gt;&lt;em&gt;"Kính Anh,&lt;br /&gt;Kính mong anh nhận lời tri ân chân thành nhất về những tình cảm quí báu và những giúp đỡ tận tụy mà anh và anh Ba đã dành riêng cho em trong những ngày tháng tại Aran Jail.&lt;br /&gt;Lý Tống"&lt;br /&gt;&lt;/em&gt;(Xem bản chụp thủ bút và chữ ký của Lý Tống ở Phụ bản 2 và 3 trang 89 và 90)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Một buổi chiều sau khi Vũ đến Aranya được một tuần, Trung úy Sẳng đã chở Đại tá Tong Đen đến Eagle’s House gặp Vũ.&lt;br /&gt;Ông là một người mập, lùn nên các em trong nhà giam Aran thường kêu lén ông là Đại tá Mập. Ông có nước da đen đúa, hàm răng hô và cặp mắt lộ, cứ liếc ngang liếc dọc liên hồi. Vũ nghĩ thầm: "Đây là biểu hiện của loại người gian xảo, nham hiểm nên cần phải thận trọng trong khi tiếp xúc..."&lt;br /&gt;Tong Đen vừa bắt tay Vũ vừa nói:&lt;br /&gt;- Chào ông! Tôi có nghe nói nhiều về ông; đến hôm nay mới gặp mặt. Đại tá Prachet có điện cho tôi, nói ông là một người tốt, có nhiều khả năng mà Prachet phục lắm. Cái đất Aran khô cằn này thật là may mắn được ông tăng cường đến tiếp tay, hy vọng sẽ khá hơn.&lt;br /&gt;Tong Đen nói tiếng Việt rất giỏi, không hề vấp váp, ngọng nghịu như những người ngoại quốc khác nói; có lẽ vì ông tiếp xúc hàng ngày với người Việt, vì thế cấp trên đã giao cho ông phụ trách đơn vị 506 Tình Báo Biên Giới này nhiều năm qua.&lt;br /&gt;Vũ cười, đáp:&lt;br /&gt;- Cảm ơn Đại tá. Đại tá Prachet quá khen đó thôi. Thực ra tôi còn phải học hỏi nhiều ở Đại tá. Vũ khiêm nhượng.&lt;br /&gt;- Đây là tấm hình của Tống. Đại tá Prachet bảo tôi đưa cho ông. Vừa nói, Tong Đen vừa móc trong túi ra tấm hình bán thân của một thanh niên chụp bằng máy Polaroid. Tôi có đọc bản phúc trình của ông về Tống. Ông thật mất nhiều công quá. Hy vọng ông không uổng công.&lt;br /&gt;- Cảm ơn Đại tá. Tôi chỉ làm theo lương tâm chức nghiệp và tình đồng hương mà thôi; Đại tá ở vào trường hợp của tôi cũng sẽ làm như vậy thôi. Vâng! Tôi sẽ cho các nhân chứng nhận diện và sẽ thông báo cho Đại tá biết.&lt;br /&gt;Đầu tháng 11/1982, Vũ lại lên đường đi đến các Trại Sikiew, Phanat Nikhom để nhờ các nhân chứng trước đây đã xác nhận lý lịch Lê Văn Tống nhận diện tấm hình để xác định chắc chắn đó là người họ quen biết. Tất cả các nhân chứng sau khi xem hình đều xác nhận đúng là Lê Văn Tống mà họ đã quen biết trước kia. Vũ nhờ các nhân chứng viết thành những tờ xác nhận để đúc kết thành một phúc trình chung thẩm gửi cho các giới chức có thẩm quyền của Tòa Đại sứ Mỹ và chính quyền Thái.&lt;br /&gt;Sau khi trở lại Aran, Vũ cùng Larry đi sang Bộ Tư Lệnh Sư đoàn 2 Bộ Binh Thái gặp Thiếu tướng Tư lệnh Sư đoàn kiêm Tư Lệnh Yếu Khu Biên Giới để trình bày nội vụ và yêu cầu ông phóng thích Lê Văn Tống. Thiếu tướng Tư Lệnh là một người cởi mở, ông vui vẻ tiếp đón Vũ và Larry với một thái độ chững chạc, rộng lượng. Ông cũng cho biết đã nhận được những báo cáo liên quan đến việc này từ Đại tá Prachet của Đơn vị 309 Quân Báo, và rất mừng khi thấy Tống đã được chứng minh là sĩ quan QLVNCH thật. Ông ký giấy phóng thích Tống ngay trước mặt Vũ và Larry. Nhân dịp này Vũ thỉnh cầu Thiếu tướng ban lệnh cho chuyển Lê Văn Tống về Trại Phanat Nikhom để làm thủ tục định cư. Ông đã chấp thuận lời thỉnh cầu này.&lt;br /&gt;Ngay khi rời khỏi Bộ Tư Lệnh Sư đoàn 2 BB, Vũ và Larry đi thẳng sang đơn vi 506 Tình báo để lãnh Tống về Eagle ‘s House để làm một số giấy tờ thuộc Tòa Đại sứ; nhưng Đại tá Tong Đen nói bên ông còn phải hoàn tất một vài thủ tục hành chánh và sẽ cho Trung úy Sẳng chở Tống sang Eagle’s House vào chiều ngày hôm sau. &lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;br /&gt;9.&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;br /&gt;Vũ và Tống ngồi uống rượu trên balcon, nhìn xuống vườn. Bóng tối đan dầy chung quanh và ánh đèn điện vàng vọt hắt ra từ những bóng điện chung quanh nhà không đủ xua tan cái bóng đêm dày đặc ấy. Gió se se lạnh vì trời đã lập đông. Gió lạnh từ núi rừng biên giới lùa về từng cơn giá buốt... Tống súng sính trong bộ quần áo mới do Vũ mua hồi chiều ngoài chợ. Điếu thuốc lá cháy đỏ trên môi. Từng sợi khói mong manh bay lên không gian, rồi tan loãng vào thinh không. Mặt Tống hừng đỏ vì men rượu.&lt;br /&gt;- Đã quá anh Ba. Tống nói. Lâu lắm rồi em mới được ngửi mùi thơm của Cognac.&lt;br /&gt;Rồi hứng chí Tống ngâm mấy câu thơ trong bài Hồ Trường. Vũ khe khe huýt gió theo điệu sáo Tao Đàn. Hai người cùng cười ha hả sảng khoái. Tống là người Huế nhưng giọng nói đã pha lẫn miền Nam. Nhìn lên tấm hình con ó và hàng chữ White Eagle trên vách, Tống nói:&lt;br /&gt;-Kỳ thiệt anh Ba. Danh hiệu truyền tin của em là Eagle mà căn nhà anh ở cũng mang tên Eagle; rồi danh hiệu truyền tin của anh cũng là Eagle. Bây giờ em lại được anh cứu ra khỏi nhà tù của xứ tự do. Vậy là từ nay em có thể cất cánh bay cao được rồi anh Ba.&lt;br /&gt;Tống cầm ly rượu lên nói:&lt;br /&gt;- Em không biết lấy gì để cảm ơn tấm lòng tốt của anh. Xin mời anh ly rượu này để tỏ lòng tri ân anh đã cứu giúp em. Em cứ tưởng anh và Victor là hai người khác nhau, chứ đâu biết hai tên chỉ là một người.&lt;br /&gt;Vũ cười cười, cầm ly rượu khẽ cụng vào ly của Tống rồi ngửa cổ uống cạn. Anh bảo Tống:&lt;br /&gt;- Đừng nói chuyện ơn nghĩa làm gì Tống à. Mình là dân giang hồ mà Tống! Xá gì ba cái chuyện lẻ tẻ đó. Anh thấy chuyện phải làm là làm thôi, dù Tống hoặc anh em nào khác anh cũng cứu, chứ đâu cần phải nhắc đến ơn nghĩa...&lt;br /&gt;Men rượu thấm sâu vào cơ thể khiến người Vũ ấm lên. Từng mạch máu như căng phồng, chạy rần rần khắp châu thân.&lt;br /&gt;Anh đứng lên ngâm một bài thơ của Nguyễn Ngọc Thuận viết ở Trại Tị Nạn Sikiew gửi ra Bangkok tặng anh:&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;"MƠ THẤY VIỆT NAM"&lt;/strong&gt; &lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;- Tặng N.Q.V&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;em&gt;Giấc mơ ta lại thấy Việt Nam &lt;/em&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;em&gt;Thấy núi rừng xương trắng rợn rùng &lt;/em&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;em&gt;Máu như mưa đổ tràn sông biển &lt;/em&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;em&gt;Bạn bè xưa hò réo nhạc âm cung &lt;/em&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;em&gt;&lt;/em&gt; &lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;em&gt;Ngày không mặt trời, đêm giông bão cuốn &lt;/em&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;em&gt;Thành phố đen sâu hút vực trầm luân &lt;/em&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;em&gt;Em tả tơi tóc sũng gió mưa buồn &lt;/em&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;em&gt;Ngồi hát thảm khúc ca đời lạnh buốt &lt;/em&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;em&gt;&lt;/em&gt; &lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;em&gt;Lối cũ em đi cây sầu thắp ngọn &lt;/em&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;em&gt;Bóng âm ti từng cọng cỏ may khô &lt;/em&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;em&gt;Chân em bước đất vươn chồi nụ oán &lt;/em&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;em&gt;Mõ đầu lâu ai gõ gọi hồn xưa &lt;/em&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;em&gt;&lt;/em&gt; &lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;em&gt;Dẫy nến nhạt soi mặt người quỷ ám &lt;/em&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;em&gt;Đêm lung linh gió rú áo cơm thôi &lt;/em&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;em&gt;Vang tiếng khóc đá rung lời nguyện xám &lt;/em&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;em&gt;Bóng cờ sao vùng vẫy giữa thây tươi &lt;/em&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;em&gt;&lt;/em&gt; &lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;em&gt;Ta thấy xích xiềng gông khua ngục thất &lt;/em&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;em&gt;Đoàn tù đi hình sống những thây ma &lt;/em&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;em&gt;Trong đói khát nhú xanh mầm nụ chết &lt;/em&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;em&gt;Tiếng người xưa chìm khuất chút âm xa &lt;/em&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;em&gt;&lt;/em&gt; &lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;em&gt;Biển réo ta sóng dậy đất điêu tàn &lt;/em&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;em&gt;Muôn mảnh vỡ núi tan thời hủy rã &lt;/em&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;em&gt;Và lửa cháy đã thiêu trời sắc đỏ &lt;/em&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;em&gt;Đã thiêu người tận thế Việt Nam.&lt;/em&gt; &lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt; &lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;strong&gt;Nguyễn Ngọc Thuận&lt;/strong&gt; &lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;(Sikiew, 5/8/1982) (18)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tống vỗ tay, reo lên:&lt;br /&gt;- Hay quá! Hay quá! Bài thơ hay quá anh ạ. Anh cho em xin một bản để lúc buồn thì nghêu ngao được không?&lt;br /&gt;Được thôi. Ngày mai anh sẽ copy cho Tống một bản. Bây giờ để mừng ngày hội ngộ của anh em mình, chúng ta cùng cạn ly.&lt;br /&gt;Tống và Vũ ngồi uống cho đến khuya. Cơn say làm anh chuếnh choáng. Trên bàn lỏng chỏng những chai Cognac cạn queo nằm nghiêng ngả, lăn lóc. Bùi Minh Ngọc, người phụ tá cho Vũ mới đem từ Trại NW 82 ra đã đi ngủ từ lâu. Tống khật khưỡng bước xuống thang lầu, miệng vẫn hát: "...Ôi! Phi công danh tiếng muôn đời..." Vũ nói theo:&lt;br /&gt;- Ê! Đi cẩn thận nghe Tống. Coi chừng té đó. Biết phòng ngủ của Tống chưa?&lt;br /&gt;- Đừng lo mà anh Ba. Em không té nổi đâu anh Ba. Em nhớ chỗ ngủ rồi. Anh Ba đi ngủ đi.&lt;br /&gt;Gió xào xạc lay động những chiếc lá xoài. Một vài con dơi bay vùn vụt dưới ánh điện vàng vọt, khua động cành lá. Gió lạnh khiến Vũ co ro. Anh khặc khừ đi vào phòng mình, ngã vật xuống giường và thiếp đi trong cơn say khướt. &lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;br /&gt;10. &lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;br /&gt;Larry và Merle chăm chú đọc hồ sơ của Tống. Thỉnh thoảng lại lấy viết đỏ gạch những đoạn cần chú ý. Vũ ngồi uống rượu, hút thuốc lơ đãng ngó trên những tấm bản đồ chi chít những ký hiệu quân sự; làm như không quan tâm lắm về vấn đề này... Trong toán công tác của Tòa Đại sứ Mỹ ở vùng Aran có 3 người thì Larry là xếp tổng quát và chuyên về Lào vì ông đã phục vụ trên xứ Vạn Tượng từ nhiều năm trước 1975; Merle phụ trách về Việt Nam (Merle trước đây phục vụ tại Việt Nam, nói tiếng Việt như người Việt) và Stain (người gốc Hawaii) phụ trách về Kampuchia. Hiện Stain đang đi phép thường niên nên không có mặt tại đây. Vũ không phải là nhân viên của văn phòng này mà là người trực thuộc thẳng Bangkok, xuống tăng cường cho vùng này một thời gian ngắn nên tạm thời Larry đã phối trí lại nhân sự như sau: Larry vẫn phụ trách Lào, Merle phụ trách Kampuchia và Vũ phụ trách về Việt Nam. Quay sang Vũ, Merle hỏi:&lt;br /&gt;- Victor. Ông nghĩ thế nào về Tống?&lt;br /&gt;- Theo ý kiến của tôi thì anh ta là một người quả cảm, gan dạ và tự tin. Anh ta có đầy đủ khả năng Anh ngữ và khôn khéo; vì vậy tôi đã đề nghị giữ anh ta lại cho một JOB làm ở đây thế cho Thomy tại Eagle’s House. Vũ nói.&lt;br /&gt;- Tôi thì cho rằng trong câu chuyện vượt thoát của anh ta dường như có điều gì đó không ổn. Tôi vẫn nghi ngờ có một cái gì đó bí ẩn hoang đường trong chuyện này. Làm sao anh ta có thể vượt thoát Biên giới với bao nhiêu là check points và tiền đồn của Quân Đội Thái? Hơn nữa các Ông nghĩ coi, câu chuyện anh ta trốn đi có vẻ thêu dệt lên nhiều, làm sao anh ta có thể bò đến chân tên lính gác VC mà nó không biết? Anh ta nói khi thấy tên lính gác đứng ngay phía trên, anh phải nằm lại không dè nằm trên ổ kiến lửa và hàng trăm ngàn con kiến bò lên cắn đốt anh ta; anh vẫn cắn răng nằm im; vậy tại sao mấy con kiến không cắn thằng lính gác mà chỉ cắn anh ta thôi? Larry nói xong, hắn và Merle cười hô hố.&lt;br /&gt;Đây là nguyên văn lời khai của Tống, tự tay Tống viết bằng tiếng Anh, Vũ không phải dịch như những hồ sơ bộ đội đào ngũ hoặc dân tị nạn. Merle lại nói: - Tôi thì cho rằng ta không nên vội vã recommend với INS (19) về case này.&lt;br /&gt;-Nếu các anh chưa chịu tin thì tôi có cách cho các anh phải tin. Vũ nói.&lt;br /&gt;-Cách nào? Cả hai người cùng hỏi&lt;br /&gt;-Người Mỹ các anh tuyệt đối tin vào cái gì? Phải chăng là máy Polygraph Test hoặc Lie-detector? (20) Yêu cầu các anh cho Tống lên máy đó thì sẽ rõ trắng đen đúng không? Nếu anh ta qua được cái máy, các anh phải giúp anh ta. OK?&lt;br /&gt;- OK. Cứ quyết định như vậy. Ngày mai tôi sẽ nói chuyện với Bangkok, xin gửi tay chuyên viên Polygraph Test xuống. Larry nói:&lt;br /&gt;- Để tránh thiên vị, ngày mai tôi sẽ trực tiếp nói chuyện với Tống và chuẩn bị cho anh ta test. Merle nói.&lt;br /&gt;Vũ cũng biết cái nguyên tắc làm việc của người Mỹ, khi 1 người bị đưa lên máy nói sự thật thì người xếp hoặc nhân viên thụ lý nội vụ không được quyền dính vào, mà sẽ có một người khác làm việc...&lt;br /&gt;Rời Main Compound ra về mà lòng Vũ buồn rười rượi. Anh nghĩ người Mỹ không thể nào hiểu được những con người Việt Nam như Tống, như anh. Khi họ đã không chấp nhận cộng sản thì dù chết họ cũng phải lánh xa cộng sản, thì muôn đời vạn kiếp cộng sản không mua chuộc được họ. Tất nhiên người Mỹ lại càng không thể hiểu được những gian nguy của các quân nhân VNCH trong cuộc đấu tranh chống cộng. Họ chấp nhận tất cả những hiểm nguy và liều lĩnh để làm những chuyện phi thường mà lúc bình thường tưởng chừng không ai làm nổi, hoặc dám làm; và người Mỹ nếu có nghĩ đến thì chỉ là trong trí tưởng tượng phong phú của phim ảnh Hollywood mà thôi.&lt;br /&gt;Con đường tối đen như mực. Người tài xế mở đèn pha sáng rực. Gió từ cánh đồng lúa lùa vào khe cửa làm tóc anh rối tung. Vũ khẽ thở dài. Tống bước ra cổng phụ mang các loại thực phẩm, nước ngọt, sữa tươi, cà phê, thuốc lá và bánh mì mà Vũ lãnh ở Main Compound về cho anh em ở trong Eagle’s House ăn.&lt;br /&gt;Vũ hỏi: - Tống ăn cơm chưa?&lt;br /&gt;- Chưa. Em chờ anh về ăn chung cho vui.&lt;br /&gt;- Chờ anh làm gì Tống. Nhiều khi anh ở lại họp về trễ lắm, không ăn đói thì sao? Nếu cứ sau 7 giờ tối mà chưa thấy anh về, cứ tự nhiên ăn cơm trước đi. Đừng đợi anh. Còn mấy anh em khác ăn chưa?&lt;br /&gt;- Ăn hết cả rồi. Chỉ còn mình em thôi.&lt;br /&gt;- Vậy Tống dọn cơm mình ăn đi. Vừa ăn, anh có chuyện cần bàn với Tống.&lt;br /&gt;Vũ kể cho Tống nghe về câu chuyện giữa anh với Larry và Merle tối nay. Anh cũng cho Tống biết vì hai người Mỹ đồng nghiệp không tin câu chuyện của Tống; mà không tin thì phiền lắm vì hồ sơ chuyển cho Sở Di Trú không minh bạch , khó mà được họ nhận định cư ở Hoa kỳ. Vì vậy anh phải dùng đến hạ sách là yêu cầu họ sử dụng máy Polygraph Test. Đây là một máy trắc nghiệm nhịp đập của tim như máy Tâm Động Đồ của Y khoa, để phát giác ra người ấy có nói dối hay không? Vì khi nói dối, nhịp tim sẽ nhảy loạn xạ và biểu đồ sẽ cho thấy những nét lên xuống rối loạn. Nguyên tắc để vượt qua cái máy này là giữ thật bình tĩnh, hơi thở điều hòa kể cả khi trả lời sai. Vũ chỉ cho Tống cánh qua mặt cái máy là trái với nguyên tắc; nhưng vì hoàn cảnh của Tống đáng thương hơn, anh đã vượt qua cái nguyên tắc ấy. Vũ nói:&lt;br /&gt;- Qua những chi tiết anh kể cho Tống về cái máy, chỉ cần Tống bình tĩnh đừng hốt hoảng thì sẽ vượt qua được. Nhớ là bình tĩnh, trả lời một cách dứt khoát, chắc chắn, không do dự... Anh tin là Tống sẽ pass.&lt;br /&gt;- Anh yên chí đi. Em mà anh. Hơn nữa anh đã cho biết trước cách qua mặt cái máy thì sợ gì không qua được? &lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;br /&gt;11.&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;Merle và lão chuyên viên về Poligraph Test mở cửa bước ra. Merle giơ hai ngón tay như chữ V cho biết buổi Test đã thành công. Vũ mừng rỡ cười, anh cũng giơ ngón tay cái lên tỏ vẻ tán đồng với Merle. Y nói với anh:&lt;br /&gt;-Chiều nay ông vào main compound sớm, mình có chuyện cần họp nhé.&lt;br /&gt;-OK!Hai người leo lên xe đi khỏi. Vũ bước vào phòng thấy Tống đang phì phèo điếu thuốc trên môi. Tống hỏi:&lt;br /&gt;-Kết quả ra sao anh?&lt;br /&gt;- Yên chí. Qua được rồi.&lt;br /&gt;-Vậy hả anh. Ồ!  Em mừng quá.&lt;br /&gt;-Anh có đề nghị tụi mũi lõ cho em làm việc lại Eagle’s House, nhưng chưa biết sao. Còn tùy thuộc vào buổi test này.&lt;br /&gt;- Ồ! Cảm ơn anh. Nếu em được ở lại đây thì tốt quá.&lt;br /&gt;- Anh cũng chỉ mong vậy. Nếu được làm lại một thời gian, sẽ giúp Tống có một số tiền đi Mỹ trong bước đầu bỡ ngỡ; và anh có người thay thế sẽ trở về lại Bangkok.&lt;br /&gt;-Vậy tối nay mình phải làm một chầu nhậu để ăn mừng chứ anh?&lt;br /&gt;- Tưởng cái gì khó khăn chứ nhậu là chuyện nhỏ. Để chiều nay anh xách trong compound về mấy chai Cognac nhậu chơi. Tống thích loại nào? Martell, Hennessy hay Courvoisier?&lt;br /&gt;- Thứ nào cũng được mà anh. Tống cười. Có là quý rồi, em đâu dám chê.&lt;br /&gt;Vũ không thể nào ngờ được bữa tiệc rượu tối đó là lần chia tay giữa Tống với anh. Và anh cũng không thể nào ngờ được định mệnh nghiệt ngã lúc nào cũng theo đuổi để dìm Tống xuống đáy vực sâu, nhưng cái bản năng của Tống lúc nào cũng trỗi dậy để sống còn, để thoát ra ngoài hệ lụy của cuộc đời. Bản tính của Tống lúc nào cũng kiêu ngạo, nghĩ rằng mình hơn hẳn mọi người, dám làm những việc người khác không dám làm nên lúc nào cũng vùng dậy, cũng muốn vượt thoát ra ngoài những ràng buộc của khuôn thước... Tống cũng không thể nào biết được rằng những cố gắng vượt mức của Vũ để cứu Tống và cố tâm giữ Tống ở lại Aranya Prathet làm việc cho Toán Công Tác của Tòa Đại sứ Mỹ đã đi ra ngoài giới hạn của một viên chức như anh. Cái cố gắng vượt mức đó đã đưa đến những mâu thuẫn tranh cãi giữa anh và hai đồng nghiệp người Mỹ, từ đó đưa đến rạn vỡ trong giao thiệp hàng ngày. Vì tánh Vũ cũng thẳng thắn và quyết giúp bạn hữu bất chấp mọi trở ngại từ đâu đến...&lt;br /&gt;Buổi chiều, Vũ trở vào main compound lúc 3 giờ chiều thay vì 5 giờ chiều như thường lệ. Anh ngồi họp với Larry và Merle trong phòng thuyết trình. Merle cho biết kết quả Polygraph Test rất tốt, y đã đánh một công điện về Washington DC và Bangkok; đồng thời cũng gửi một bản sao sang Phòng Di Trú của Tòa Đại sứ để khi Tống gặp họ để phỏng vấn đi định cư sẽ không gặp trở ngại. Tuy nhiên ý kiến của Vũ đề nghị giữ Tống lại Eagle’s House để làm việc đã bị sự chống đối mạnh mẽ của Larry và Tong Đen; còn Merle thì không có ý kiến về việc này. Quan điểm của Larry và Tong Đen là: "Tống đã bị giam ở Aran lâu ngày, đã có những lúc chịu những hình phạt nặng nề, bị đánh đập v.v..., nếu giữ Tống ở lại làm công việc phỏng vấn các đối tượng bộ đội VC bị giam giữ ở Aran thì sẽ rất khó làm việc và sẽ bị bọn chúng coi thường... Tong Đen hứa sẽ chuyển Tống lên Phanat Nikhom để làm thủ tục định cư"&lt;br /&gt;Vũ bực dọc tranh cãi với Larry và anh cũng quạt luôn cả Merle vì tên này không có ý kiến gì. Thật ra vì bực dọc mà anh gây gỗ với hai đồng nghiệp vậy thôi chứ Larry là xếp ở văn phòng này, y có toàn quyền nhận cho làm hay không. Biết là không thể nào lay chuyển nổi định kiến của một con người bảo thủ như Larry, với cương vị là Boss, y phải cứng rắn là lẽ đương nhiên. Vũ dù sao cũng chỉ là một nhân viên tăng cường nên tiếng nói không có nhiều hiệu quả. Vũ chán nản đứng dậy bỏ về Eagle’s House, không quên xách theo mấy chai Courvoisier, soda và đồ hộp làm mồi nhậu. Anh nghĩ mình cũng sớm rời khỏi vùng khỉ ho cò gáy này để trở về Bangkok còn vui hơn cái miền đồng quê nắng cháy, bụi đỏ mù trời này.&lt;br /&gt;Mấy bữa nay Vũ đã mang khá nhiều anh em ra interview cho cái Job làm ở Eagle’s House nhưng chưa có ai được nhận. Có lẽ đây là cái Job nhàn nhã và tiền lương cũng khá cao, có nhà ở, xe chạy có tài xế, có ăn mà việc làm thì tà tà lại có cơ hội du lịch nhiều nơi... vậy mà kiếm được một người làm không phải là dễ vì đòi hỏi nhiều điều kiện khắt khe. Anh chàng Nguyễn Ngọc Thuận, Thiếu tá Thiết giáp, Cử nhân văn chương Anh, đã được Larry nhận cho làm; nhưng không biết gã nói gì đó với Thuận khiến anh nổi nóng, đứng dậy chỉ thẳng vào mặt Larry nói: "Ngày xưa, gặp tao mày phải gọi tao là Sir. Bây giờ dù tao có thất thế nhưng đừng có hỗn láo với tao..." Thế là Thuận từ chối cái Job béo bở này, tự nguyện trở về Trại Sikiew nằm chờ thời gian trôi đi chậm chạp. Anh chàng thứ hai được đưa ra là Vũ Ngọc Bách, Đại úy Công Binh do Merle interview (Vũ tự nguyện đứng ngoài cuộc tuyển người vì anh không phải nhân viên của văn phòng này hơn nữa vì phỏng vấn người Việt, anh không muốn bị mang tiếng là thiên vị; trong khi đó có đôi khi tuyển người cho Tiểu ban Lào hoặc Kampuchia thì hai người kia lại nhờ anh làm giúp).&lt;br /&gt;Merle là một người Mỹ có vợ Việt Nam, đã phục vụ nhiều năm ở VN, cũng có tên Việt là Nguyễn Văn Minh, nên y nói tiếng Việt còn sõi hơn nhiều người Việt khác. Y biết đến những tiếng lóng của người Việt, biết nói lái và biết nói bóng gió xa xôi... Nếu không nhìn vào cái mũi lõ, cặp mắt xanh lơ và mái tóc vàng hoe mà chỉ nghe tiếng nói của y thì chắc chắn người ta sẽ nghĩ là một người Việt nam đang nói chuyện. Merle quá rành, nên khi trò chuyện với Bách, khi giỡn cợt Bách sơ hở không biết y gài nên nói hớ một đôi câu để y biết được khi Bách còn ở đơn vị Công Binh VNCH, đã có vài lần lấy đồ của đơn vị về nhà xài riêng. Merle nói với Vũ: "Ông biết mà, những người làm công việc như mình thì phải trong sạch. Có máu tham ô thì không làm công việc của mình được đúng không? Vì vậy tôi phải trả anh ta về Trại NW.82". Dĩ nhiên là đúng! Vì tham ô thì khó mà qua được máy Polygraph Test, làm sao có thể làm được trong ngành này.&lt;br /&gt;Một người khác cũng được Vũ mang ra chờ interview là Bùi Minh Ngọc, Thiếu úy Không Quân VNCH cũng ở trại NW 82. Ngọc nằm chờ đã cả tuần nay, Vũ để cho phụ làm những công việc giấy tờ; vì bận rộn vụ Lý Tống nên chưa được interview.&lt;br /&gt;Tuần sau thì Vũ sẽ đi Trại Sikiew để chở ông Nguyễn Văn Hồng, Trung tá Sĩ quan liên lạc cạnh Bộ Tư Lệnh Quân Đội Đồng Minh ở Sàigòn trước năm 1975. Ông Hồng đến Trại Sikiew mới được mấy tháng nay, nhưng vì là Sĩ quan liên lạc nên thông thạo Anh, Pháp, Thái, Hoa vì vậy Vũ quyết định lấy ông ra thử xem có làm việc được không. Nếu có người lúc nào thì Vũ sẽ về ngay Bangkok lúc đó.&lt;br /&gt;Thay vì về thẳng nhà, Vũ bảo tài xế lái xe đưa anh ra phố chợ Aranya Prathet mua cho Tống mấy bộ quần áo, vài cây thuốc lá và ít đồ dùng hàng ngày. Vũ chỉ mới gặp Tống trong vài ngày ngắn ngủi, nhưng hàn huyên tâm sự thì quá nhiều. Anh có cảm tưởng như sắp phải chia tay với một người em, một người thân không biết đến bao giờ mới được gặp lại. Rồi anh tự an ủi: "Thôi thì để cho Tống lên Trại Phanat Nikhom chuẩn bị đi định cư cũng là một điều maỵ Biết đâu khi sang Mỹ Tống sẽ làm được nhiều điều hay, nhiều điều có ích cho tập thể người Việt hải ngoại..."&lt;br /&gt;Khi về đến nhà thì trời đã sẩm tối. Mấy anh em đang ngồi đàn hát ở bàn thấy Vũ về vội chạy ùa ra để mang đồ đạc vào nhà. Tống đang ngồi hút thuốc, hí hoáy viết cái gì đó trên bàn. Vũ gọi Tâm, một em bộ đội ở Aran Jail được Vũ giữ lại Eagle 's House dọn dẹp nhà cửa:&lt;br /&gt;-Tâm à! Dọn cơm ăn đi em.&lt;br /&gt;- Dạ! Anh Ba.&lt;br /&gt;-Anh có mua thêm vịt quay, thịt heo quay, bánh bò và bánh hỏi... Tâm nhớ làm nước mắm cho ngon nghe.&lt;br /&gt;Chỉ trong chốc lát bàn tiệc đã được dọn ra ê hề những món ăn trên bàn. Vũ kêu mọi người im lặng để anh nói lý do bữa tiệc linh đình này:&lt;br /&gt;- Các em chắc muốn biết lý do bữa tiệc đặc biệt ngày hôm nay lắm phải không? Đây là bữa tiệc mừng anh Lý Tống đã được giải oan; chính thức thoát cảnh lao tù oan ức và cũng là để chia tay với anh Tống. Mọi người đều ồ lên ngạc nhiên. Vũ đưa tay ra hiệu im lặng rồi nói tiếp: Sở dĩ anh nói như vậy vì chiều nay đi họp, ông Tong Đen đã quyết định chuyển anh Tống lên Phanat Nikhom để làm thủ tục định cư. Vậy các em cùng nâng ly để chúc mừng và chia tay với anh Tống. Nói xong, Vũ cầm ly của mình nâng lên cụng với Tống.&lt;br /&gt;- Em xin chân thành cảm ơn anh Ba về sự giúp đỡ quý báu mà anh Ba đã dành riêng cho em. Em xin tặng anh Ba bài thơ em mới viết để tỏ lòng tri ân anh. Vừa nói, Tống vừa đưa Vũ tờ giấy nhỏ có viết bài thơ. Em xin anh Ba uống cạn ly này với em và cầu chúc anh Ba luôn khỏe mạnh.&lt;br /&gt;Mọi người cùng nâng ly uống cạn, và bắt đầu thanh toán các món ăn trên bàn, truyện trò vang rền. Bây giờ thì Vũ đã biết khi nãy Tống ngồi hí hoáy viết cái gì rồi. Anh mở tờ giấy ra đọc: &lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;br /&gt;YOUR KINDNESS &lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;br /&gt;I have a very hard head &lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;But I get a soft heart &lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;So it makes me hurt &lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;Even with a light touch &lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;Your kindness is something &lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;It's stronger but it's smooth &lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;It can not see &lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;But it feels very good &lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;It can not speak &lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;But it understands &lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;It moves very slow &lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;But it overflows very fast &lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;It looks like an absence &lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;But existence’s obvious &lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;It sounds like a silence &lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;But it echós very great &lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;It seems like nothing &lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;But it means everything. &lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;(Thơ Lý Tống - 1982)&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;Bữa tiệc kéo dài cho đến khuya. Khi mọi người đã đi ngủ, Vũ rủ Tống lên ngồi ở balcon tiếp tục uống rượu. Vũ đưa cho Tống mấy bộ quần áo, cây thuốc lá và vài trăm đồng tiền Thái để Tống dùng khi đến trại mới. Vũ nói:&lt;br /&gt;- Có một điều này anh muốn nói với Tống; nếu Tống bỏ bớt được tánh kiêu ngạo thì Tống sẽ trở thành người rất hữu dụng cho đất nước sau này. Nếu Tống tiếp tục giữ tánh đó, thì hoặc là Tống sẽ rất thành công khi có dịp nắm được những cơ hội tốt, hoặc Tống sẽ bị vấp ngã nhiều hơn, đau đớn hơn.&lt;br /&gt;- Dạ! Cảm ơn anh Ba. Em sẽ ghi nhớ lời anh Ba.&lt;br /&gt;Vũ và Tống ngồi uống rượu tâm sự cho đến khuya, khi những hạt sương xuống thật dầy, đọng ướt đẫm những chiếc lá xoài vươn vào lan can đụng cả vào tay Vũ. Anh dặn dò Tống đủ điều như một người anh dặn dò người em khi phải xa nhà. Vũ nhìn trong ánh mắt Tống có những vệt long lanh của sự cảm động vì những săn sóc của anh. Vũ đứng dậy bảo Tống:&lt;br /&gt;-Khuya quá rồi. Đi ngủ nghe Tống.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;12. &lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;br /&gt;Chiếc xe pick up màu xanh của Trung úy Sẳng rẽ vào trong sân. Vũ siết chặt tay Tống bịn rịn, anh nghe lòng buồn rũ rượi.&lt;br /&gt;- Thôi Tống đi nghe. Cố giữ gìn sức khỏe. Hy vọng có ngày gặp lại nhau.&lt;br /&gt;- Chào anh Ba em đi. Chào mấy anh em ở lại, chúc mấy anh em may mắn.&lt;br /&gt;Tống quay sang vẫy tay từ biệt các anh em đứng lố nhố trong sân; rồi leo lên xe ngồi cạnh Sẳng. Chiếc xe từ từ rời khỏi Eagle’s House trong sự quyến luyến của mọi người. Vũ quay trở vào văn phòng, ngồi trước chồng hồ sơ dầy cộm nhưng chỉ thấy những hàng chữ nhảy múa trước mặt. Tấm lịch trên bàn cho anh biết ngày Tống rời Eagle’s House là 23 tháng 11 năm 1982. Tự dưng anh cảm thấy trong lòng nôn nao bồn chồn một cách kỳ lạ. Linh tính như báo cho anh biết có chuyện bất ổn đang xảy ra... Anh biết không thể làm gì được trong lúc này nên gấp hồ sơ cất vào tủ, khóa lại; rồi lững thững ra vườn đứng ngắm mấy cụm hoa hồng đang trổ bông. Anh dặn dò Tâm nhớ tưới cho mấy khóm hoa cúc và mấy giò lan treo ở nhà thủy tạ, mấy gốc ớ sau hiên nhà, xong trở vào ngồi trước máy truyền tin gọi về Bangkok cho David Campbell. Anh nói với xếp là muốn trở về Bangkok càng sớm càng tốt vì không thích không khí ở đây. David cũng nói đang cần anh trở về gấp vì số người đi sang Mỹ theo diện ODP và Con lai Amerisian ngày một đông, bị ối đọng quá nhiều không có người thanh lọc. Vũ nói anh sẽ về lại BangKok trong tuần sau vì hiện tại đã có Bùi Minh Ngọc tạm thay thế anh ở Eagle’s House và yêu cầu David kiếm mướn cho anh một căn nhà khác ở khu Sathorn Tai, gần Tòa Đại sứ Mỹ. Anh thích khu vực này vì vừa gần Tòa Đại sứ mà cũng gần cơ quan ODP ở Soi Tien Siang và Cơ Quan JVA ở 89 Wireless để dễ chạy qua, chạy lại khi cần; hơn nữa lại gần khu thị tứ dễ đi ăn nhậu, mua sắm...&lt;br /&gt;Cuối tháng 12/1982, Vũ giao lại căn nhà Eagle’s House cho Bùi Minh Ngọc phụ trách, trở về Bangkok giữ nhiệm vụ Sĩ Quan An Ninh thanh lọc VC trà trộn trong số những người sang Mỹ theo diện ODP và Con Lai. Anh nói với Ram Ruong, Sĩ quan liên lạc Thái có nhiệm vụ theo anh làm Thông dịch tiếng Thái ghé lại Trại Phanat Nikhom cho anh kiếm mấy người quen, vì trên đường từ Aranya Prathet về Bangkok phải đi qua Trại nàỵ Vũ định bụng ghé lại Trại Phanat xem Tống còn ở đó không và có cần gì thì anh giúp cho.&lt;br /&gt;Khi vào trong Trại, Vũ sai Chô, một người Thái làm việc cho Văn phòng Bộ Nội Vụ Thái ở Trại này, đi tìm kiếm Tống cho anh, nhưng lục hết mọi danh sách nhập Trại trong thời gian từ 23/11/82 cho đến nay không có tên Tống trong đó. Vũ phải sang Văn phòng Cao Ủy Tị Nạn LHQ ở Phanat do Ông Chaluay, người Thái phụ trách để nhờ ông này tìm trong danh sách người tị nạn trên đất Thái, nhưng cũng không có tên Tống. Vũ liền bảo Ram Ruong gọi điện thoại về Bangkok để truy tìm tông tích của Tống xem đang ở đâu. Khoảng nửa tiếng đồng hồ sau, Đại tá Prachet đã báo cho anh biết một "bad news" là ngày 23/11/1982, đáng lẽ phải đưa Tống lên Phanat Nikhom, ông Tong Đen đã tráo đổi giấy tờ và đưa Tống ra Trại Phnom Samet thuộc quyền kiểm soát của Kháng chiến Miên. Những người nằm ở Trại này chưa được công nhận là tị nạn và chưa được quyền bảo trợ của Cao Ủy Tị Nạn; đó là lý do Chaluay không tìm thấy tên Tống trong danh sách của Cao Ủy. Vũ chợt hiểu ra ý đồ thâm độc của Tong Đen, vì thù Tống chửi y, nên y định mượn tay Kháng chiến Miên giết Tống, vì với tính bướng bỉnh, cứng đầu như Tống rất dễ bị những người kháng chiến Miên sát hại. Nghĩ như vậy nên Vũ càng lo lắng, bồn chồn. Suốt cuộc hành trình trở về Bangkok anh cứ thấp thỏm lo âu không yên... Vừa về đến Bangkok, Vũ gọi điện thoại đi khắp nơi để khiếu nại về trường hợp của Tống, về sự vô kỷ luật của Tong Đen... nhưng không đi đến đâu vì người Thái thì bênh nhau họ không muốn khơi lại vụ này, người Mỹ thì bận rộn nhiều chuyện khác hàng ngày, chẳng ai quan tâm đến Lê Văn Tống nữa. Anh chẳng biết làm cách nào để liên lạc với Tống ngoài biên giới, vì với chức vụ mới, nhiệm sở mới khiến anh bận bù đầu suốt ngày, có khi làm việc đến tận khuya. Chỉ có một mình anh mà vừa phải Phỏng vấn và thanh lọc những người đi theo chương trình ODP mỗi tuần đến Thái khoảng 250 đến 300 người, phỏng vấn chương trình Con Lai cũng khoảng 200 đến 300 người một tuần, viết phúc trình, đánh máy, xong còn phải họp hành lu bu. Công việc bận rộn khiến anh không còn thì giờ làm những việc riêng tư của cá nhân mà anh vẫn thường làm là đi mua sắm những món quà gửi về Việt Nam cho cha mẹ anh. Anh đã nhiều lần yêu cầu David Campbell cho anh thêm người phụ tá để giúp anh thanh toán bớt những hồ sơ ứ đọng. David cũng thấy anh bận rộn quá nhưng y lại giao nhiệm vụ kiếm tìm người cho anh, mà anh không có thì giờ rảnh đi xuống các trại kiếm tìm người có khả năng ra làm việc phụ anh. Mãi mấy tháng sau anh mới kéo được Tôn Thất Hồng (15), Trung úy Hoa Tiêu Trực thăng của Không Quân VNCH ra phụ giúp...&lt;br /&gt;Một buổi sáng giữa tháng 2 năm 1983 (khoảng ngày 11 hoặc 12 gì đó, Vũ không nhớ chính xác), khi đang ngồi ăn sáng để chuẩn bị đi làm, anh đã nhẩy nhổm người lên khi đọc một bài viết trên tờ Bangkok Post. Vũ còn nhớ rõ tựa đề của bài báo: "Vietnamese Refugee Flees To Singapore the Hard Way" của Barry Wain. Bài báo này được đăng tải trên tờ The Asian Wall Street Journal và tờ Bangkok Post đã đăng lại. Bài báo như có một luồng điện làm anh tê cóng cả người, anh say mê đọc bài tường thuật của Barry Wain đến quên cả ăn. Nỗi mừng vui choáng ngợp con người anh khiến anh trở nên vụng về luống cuống. Anh vội vã bốc điện thoại thông báo cho mấy người bạn cùng làm trong Embassy mà anh đã từng kể cho họ nghe chuyện về Tống trong thời gian ở Aranya Prathet và viết vội mấy giòng báo tin cho bạn bè của Tống như Nguyễn Bảy, Hoàng Văn Mai, Võ Thành Sô ... ở Trại Sikiew biết tin. Vũ tin là con người như Tống chắc chắn sẽ không chịu nằm im thúc thủ trong những vòng rào thép gai của Trại Nong Samet. Vũ rất vui khi nghe tin của người bạn sơ giao nhưng tưởng chừng như tri kỷ đã trở thành người tị nạn đường bộ có cuộc hành trình bằng chân dài nhất, vượt qua hơn 2500 cây số, vượt ngục 3 nhà giam và bơi qua eo biển Johore Strait để đến được Singapore an toàn.&lt;br /&gt;Cuối tháng 6/1983, Vũ nhận được một lá thư của Tống viết từ đảo Galang, Indonesia; trên một tờ giấy màu xanh, một mặt có bài thơ "YOUR KINDNESS" mà Tống viết cho Vũ đêm trước khi chia tay ở Aranya Prathet. Những giòng chữ quen thuộc của Tống khơi lại cho Vũ những kỷ niệm lãng đãng ở vùng đất khô cằn, nắng cháy với những tình thân của một người đồng hương, một bạn tù, một tình huynh đệ chi binh. Tất cả phải chăng là cái duyên với nhau trên phần đời lưu lạc xứ người. Lá thư của Tống viết:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;em&gt;Galang, 14 June 1983&lt;br /&gt;Anh V.&lt;br /&gt;Những ngày gặp anh, những đêm đối ẩm, nghe nhạc, đọc thơ, những hy vọng vừa lóe lên và tàn rụi... thoáng chốc đã hơn nửa năm. Tình cảm của những kẻ vừa mới gặp nhau, quen nhau mà tưởng như có chung một quá khứ, có chung những kỷ niệm của tri kỷ, tri nhân.&lt;br /&gt;Tưởng anh đã đi, tưởng sẽ không có dịp để viết vài lời hồi tưởng, để nhắc nhở lại tí tình. Địa ngục đỏ không giữ được tôi, địa ngục "đất tự do" cũng đành hậm hực nhìn "Eagle" tung cánh. Sức mạnh tiềm ẩn của 8 năm cay đắng, thao thức đã nâng tấm thân gầy hốc hác trên đôi chân đơn độc ngàn dặm. Tôi sẽ tiếp tục đi trên con đường định mạng mà những tình cảm bè bạn, chiến hữu là những chất lửa nhiệt tình quí báu.&lt;br /&gt;Tôi sẽ đi Mỹ tháng 8/83. Nếu có phương tiện, anh có thể photocopy mấy bài báo này gởi Bảy và bè bạn ở Sikiew.&lt;br /&gt;Chúc anh và các bạn những may mắn bất ngờ.&lt;br /&gt;Lý Tống" &lt;/em&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;VŨ UYÊN GIANG&lt;/strong&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;Chicago, Tháng 12/1991&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;&lt;div align="justify"&gt;Ghi chú:&lt;br /&gt;(1) xảm ló: xe ba bánh&lt;br /&gt;(2) Nguyễn Bá Ruyệt: hiện đang cư ngụ tại Richmond, Virginia&lt;br /&gt;(3) Khun Phá Lẳng: người ngoại quốc&lt;br /&gt;(4) Khun Chanas Michay: có nghĩa là Mr.Victor (5) Pẹt Xảm Pẹt: Tám Ba Tám&lt;br /&gt;(6) Khấp Phổm: Yes Sir&lt;br /&gt;(7) Sa Wạt Đi Khấp: Dạ xin chào&lt;br /&gt;(8) Pút Ba Xả Thài níc nòi: Nói tiếng Thái được một chút&lt;br /&gt;(9) Hà Sủn Hột: 506&lt;br /&gt;(10) Hổ ná: Ông Xếp&lt;br /&gt;(11) Krung Thép: Bangkok&lt;br /&gt;(12) Thomy tức Thạch Thom, cựu Đại úy VNCH phục vụ tại BTL. Quân Đoàn I Đà Nẵng. Thom định cư tại thành phố Seattle, Washington từ 1982 (đã chết vì bệnh). Nguyễn Ngọc Thuận: Thiếu tá Thiết Giáp. Hiện đang cư ngụ ở Tempe, Arizona. Vũ Ngọc Bách, Đại úy Công Binh hiện cư ngụ tại Los Angeles, CA. Bùi Minh Ngọc, Thiếu úy Không Quân hiện cư ngụ tại New Jersey City, NJ. Nguyễn Văn Hồng, Trung tá Phụ tá tùy viên Quân sự Tòa Đại sứ VNCH tại Đài Loan; cư ngụ tại McLean, VA – ông Hồng đã chết vì bệnh. Tôn Thất Hồng, Trung úy Không quân, hiện cư ngụ ở Seattle, WA.&lt;br /&gt;(13) Đeo kiềng: Bị cùm chân trong vòng sắt (14) Check point: trạm kiểm soát&lt;br /&gt;(15) A.50 Nam Vang: Bộ Chỉ Huy Quân sự của lực lượng VC chiếm đóng Kampuchia&lt;br /&gt;(16) Võ Thành Sô, Nguyễn Bảy, Hoàng Văn Mai là những hoa tiêu Không quân bạn Tống. Nguyễn Bảy, Đại úy KQ hiện cư ngụ ở San Jose, CA(17) Nắng sử: nhật báo&lt;br /&gt;(18) Bài thơ này đã được Thuận in trong Thi tập Tù Ngục và Tâm Thức Lưu Đầy&lt;br /&gt;(19) INS: Sở Di Trú&lt;br /&gt;(20) Polygraph Test: Máy Sự Thật hoặc còn được gọi là máy Lie-detector&lt;br /&gt; &lt;/div&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/9009333266934427487-6960703746039934150?l=trenduongbiengioi.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://trenduongbiengioi.blogspot.com/feeds/6960703746039934150/comments/default' title='Post Comments'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://trenduongbiengioi.blogspot.com/2009/10/tren-uong-bien-gioi.html#comment-form' title='0 Comments'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/9009333266934427487/posts/default/6960703746039934150'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/9009333266934427487/posts/default/6960703746039934150'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://trenduongbiengioi.blogspot.com/2009/10/tren-uong-bien-gioi.html' title='TRÊN ĐƯỜNG BIÊN GIỚI'/><author><name>Vũ Uyên Giang</name><uri>http://www.blogger.com/profile/14317469376846546930</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='27' height='32' src='http://4.bp.blogspot.com/_a9tmOxlA1Y8/SurV9bfSPWI/AAAAAAAAAAU/3GQa-eia6Kw/S220/vinh1.jpg'/></author><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-9009333266934427487.post-7580163618965273640</id><published>2009-10-30T05:05:00.000-07:00</published><updated>2009-10-30T05:15:44.427-07:00</updated><title type='text'>MỘT THOÁNG KỶ NIỆM</title><content type='html'>&lt;div align="justify"&gt;&lt;span style="font-size:130%;color:#000066;"&gt;&lt;strong&gt;MỘT THOÁNG KỶ NIỆM&lt;br /&gt;&lt;/strong&gt;&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;em&gt;(Để nhớ đến bạn tôi nhà văn Dương Hùng Cường đã bị cộng sản bức hại trong lao tù)&lt;br /&gt;&lt;/em&gt;&lt;br /&gt;                         &lt;br /&gt;1.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Vũ đi dọc con suối nhỏ chạy giữa khu rừng tre già ở Vùng Kinh Tế Mới Cẩm Đường (Long Giao, Long Khánh) mong tìm kiếm được ít rau tàu bay, cải trời để làm món ăn độn cho cả bọn, vì hôm nay tới phiên anh "đi chợ" (1)... Kinh nghiệm tù đầy trong "vòng tay nhân ái" của đảng cộng sản đã cho bọn anh những bài học quý giá; nếu không muốn bị chết vì đói khát dưới sự lao động khổ sai và sự quản lý hà khắc của cai ngục thì phải biết đoàn kết, phải biết kết hợp thành từng nhóm nhỏ từ 2, 3 người để giúp đỡ lẫn nhau trong lao động cũng như sinh hoạt và ngay cả trong công việc tìm kiếm những cọng rau lang, rau muống, củ sắn, củ khoai... làm đầy cái bao tử vốn thường xuyên lép kẹp. Rừng tre già với những thân tre cao vút, oằn xuống. Tàn tre đan kín không gian, che khuất ánh sáng mặt trời chói chang bên trên, khiến khu rừng trở nên âm u, hoang vắng lạ lùng. Tiếng gà rừng xao xác, xen lẫn với tiếng kẽo kẹt của thân tre cọ vào nhau sau mỗi cơn gió thoảng. Tiếng chặt tre chan chát xen lẫn với tiếng reo hò của đám cải tạo mỗi khi chặt được một cây tre tạo thành những thanh âm hỗn độn, ồn ào, vang động cả một góc rừng. Vũ men theo triền suối, nước trong vắt chảy lững lờ. Một vài con cá lòng tong bơi tung tăng ngược giòng nước tạo thành những vệt sóng nhỏ lăn tăn. Vũ nghĩ, nếu giờ này mà có một cái vợt, anh sẽ vớt được những chú cá lòng tong bé tí kia, và đến chiều, cả bọn anh sẽ có một nồi canh rau với chút mùi tanh tanh của cá. Nghĩ đến đó tự dưng anh nuốt nước miếng... Anh chợt cười vu vơ, xua đuổi ý nghĩ vừa thoáng hiện trong đầu. Đời sống khổ ải trong lao tù khiến con người trở nên ti tiểu; suốt ngày chỉ nghĩ kế làm sao đánh lừa được cái bao tử bằng những cọng rau, những mẩu khoai, mẩu sắn nhặt nhạnh được trong khi lao động.&lt;br /&gt;Vũ dừng lại lắng tai nghe ngóng. Dường như có tiếng nói cười lao xao vọng lại từ bên kia bờ suối. Anh thận trọng nghe ngóng, dò xét để đi đến quyết định có nên sang bên đó không? Đây là một chọn lựa khôn khéo mà bắt buộc bất cứ người nào được cử "đi chợ" cũng phải đắn đo, thận trọng vì có thể đó là tiếng nói cười của bọn vệ binh canh tù. Lớ ngớ để chúng tóm được thì ốm đòn; có khi dám xơi cả băng AKAMICINE (2) vào người không chừng; nhưng cũng có thể đó là tiếng nói cười của đám tù nhân Trại khác cùng lao động ở khu vực này... Nhưng béo bở nhất là gặp được những người dân đi làm rừng, làm rẫy; đúng là trúng số, vì sẽ có cơ hội mua được tí đường, tí đậu, tí thuốc lào... Đôi khi có anh còn mua được cả lít "máu nhân dân" (3) hoặc ký thịt, ký cá v.v... về để dành ăn cả tháng. Anh còn đang phân vân không biết có nên băng qua con suối sang bên kia không, thì loáng thoáng nghe trong gió thoảng tiếng nói vọng đến: "Tụi mày biết không? Lúc tao ở Không Quân..."  Giọng nói quen thuộc lắm anh nhớ là đã nghe tiếng người này nói ở đâu đó một đôi lần thì phải nên chắc là quen với anh. Vũ mỉm cười quyết định bước sang bên kia bờ suối vì biết  chắc bên kia là phe ta.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;2.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Người đàn ông gầy guộc, làn da sạm đen, hai má hóp lại và khi cười để lộ hàm răng có những chiếc răng cửa bị gẫy. Anh ta nằm ngửa dưới tàn một cây "cám" lớn. Chung quanh anh, lố nhố những người tù quần áo vá chằng, vá đụp đang kẻ đứng, người ngồi nghe anh nói chuyện. Chiếc điếu cầy lỏng chỏng trên nền đất. Trong trại tù thì chiếc điếu cầy là hình ảnh quen thuộc lúc nào cũng đi sát với cải tạo như vũ khí bên mình, chẳng thế mà có nhiều anh ví von là đeo Bazôka đó sao? Tiếng nói của người đàn ông sang sảng, ánh mắt sáng và khuôn mặt cương nghị khiến Vũ nhớ đến một người bạn thân của một thời xa xưa: Dương Hùng Cường, tức Dê Húc Càn, nhà văn Quân Đội ở binh chủng Không Quân QLVNCH, tác giả của Buồn Vui Phi Trường, Vĩnh Biệt Phượng... Vũ mạnh dạn bước về phía những người cải tạo đang quây quần nói chuyện. Người đàn ông ngồi bật dậy như giây lò so, gọi:&lt;br /&gt;- Vũ! Mày phải không? Lại đây.&lt;br /&gt;- Sao "ông" thay đổi nhiều quá vậy? Ở Trại nào?&lt;br /&gt;Vừa hỏi, Vũ vừa đưa mắt ngầm chào những người bạn chung quanh Cường. Từ lâu, mặc dù chơi với anh, nhưng Vũ vẫn có thói quen gọi anh bằng "ông", vì Cường lớn hơn Vũ khoảng 5, 6 tuổi gì đó; nhưng vì cùng là đồng nghiệp trong giới viết lách, văn nghệ văn gừng, báo chí; hơn nữa hai người lại chơi thân với nhau; nên trong đối xử Cường vẫn coi Vũ như một người bạn cùng trang lứa; ngược lại Vũ vẫn coi Cường như một người anh. Cường có thói quen gọi bất cứ người bạn thân nào cũng bằng mày, tao; nên Vũ cũng không ra khỏi cái thói quen thân tình đó.&lt;br /&gt;- Mẹ kiếp! Mày thì có hơn gì tao? Cũng thay đổi như bất cứ thằng tù nào. Vào đây mà mày không thay đổi, cứ phây phây mập mạp là làm hỏng kế hoạch của đảng và nhà nước mất. Tao ở T.11, L.2. Còn mày? Cường hỏi. Anh vẫn giữ lối nói ồn ào, dí dỏm ấy.&lt;br /&gt;- T.5, L.1&lt;br /&gt;- Mày có gặp thằng nào "phe ta" không? Tao chẳng gặp thằng nào cả. &lt;br /&gt;Vũ đáp:&lt;br /&gt;- Có. Thằng Trần Ngọc Tự (4), Nguyễn Đăng Thạch (5), Nguyễn Thanh Trang (6) ở T.5 chung với tôi. Nguyễn Nguyên Phương (7), Phí Ích Bành (8), Nguyễn Đức Quang (9), Dương Kiền (10), Dương Cự (11) ở T.1; Đỗ Kim Bảng (12), Đào Văn Khánh (13) ở T.3, Khả Năng (14) ở T.2 và khi ở Phú Quốc gặp Nghiêm Phú Phát (15) và Võ Thế Hào (16)...&lt;br /&gt;Nói xong Vũ cầm chiếc điếu cầy rít một hơi. Những sợi thuốc lào Lạng Sơn chính hiệu, vàng óng, được cắt thật nhuyễn đưa anh vào cơn say ngầy ngật, tê dại.&lt;br /&gt;Dương Hùng Cường quay sang giới thiệu Vũ với đám bạn bè anh đang bu chung quanh:&lt;br /&gt;- Đây là thằng Vũ, đồng nghiệp làm báo của tao. Thằng này nhiều tài vặt lắm viết văn cũng được, làm thơ nghe cũng khá, đặc biệt nó chẳng học trường vẽ mà vẽ cũng có nét lắm... Trong đám viết lách tao chịu thằng này nhất vì nó thẳng thắn, không lươn lẹo, quanh co. Nhiều lúc nó "phang" những búa mà cả tuần sau thằng bị phang mới biết, mới hiểu. Đau không chịu được... Như hôm Tết Mậu Thân, nó phang thằng Cả Quỷnh, Giám Đốc Trị sự của tờ báo nó đang làm ngay trên tờ báo Xuân; vậy mà mãi sau Tết con nhà Cả Quỷnh mới biết. Đau không để đâu cho hết đau. Bọn làm báo tụi tao thằng nào cũng căm mấy ông chủ báo keo kiệt, hà tiện mà chẳng làm được gì, chẳng dám lên tiếng; chỉ có thằng này hiên ngang phang cả nhà thằng Quản Đốc tờ báo mình đang làm trên báo nhà; mà lại là báo Xuân nữa mới đau điếng. Dường như lúc đó mày làm chung với thằng  Viên Linh (17) phải không?&lt;br /&gt;- Ừ! Nhưng Viên Linh đã rời tòa soạn vì xích mích với Cả Quỷnh. Bấy giờ chỉ còn Anh Hoàng Sơn và Đạm Phong...&lt;br /&gt; - Mày có nghe tin tức gì của thằng Nguyên Vũ và Du Tử Lê không?&lt;br /&gt;- Không!&lt;br /&gt;- Tao nghe mấy thằng nó nói, chính mắt bọn nó trông thấy thằng Du Tử Lê bị chết ở chân cầu Thị Nghè. Có thằng còn quả quyết nhìn thấy chiếc xe Vespa của nó nằm lật gọng ở lề đường. Còn thằng Nguyên Vũ thì có đứa nói với tao là đến chiếu ngày 30/4/75 còn gặp nó ở Sàigòn; mãi ngày 2/5/75 nó mới lần mò ra Vũng Tàu và "tếch" ở đó. Tao thích tính thằng Nguyên Vũ, nó chơi chí tình với bạn bè, hơi màu mè một chút nhưng không thủ. Có tiền là xả láng... Mày nhớ bữa tiệc lột lon ở Trung Thành Quán ngày nó giải ngũ không? Vui quá hả mày?&lt;br /&gt;- Ông nghe những tin đồn về Phách và Chiêu (18) ở đâu vậy ? Nhiều khi chỉ là những tin đồn nhảm thôi. Sau ngày đứt phim, thiếu gì những huyền thoại! Vũ đáp.&lt;br /&gt;- Ừ, tao cũng nghĩ thế.&lt;br /&gt;Nỗi mừng vui xôn xao trong lòng; Vũ không thể nào ngờ gặp lại Dương Hùng Cường trong hoàn cảnh tù đầy này. Hai thằng ngồi nhắc nhở  nhau về những kỷ niệm của thời làm báo; nhắc đến bạn bè, đứa ở, đứa đi mà ngậm ngùi. Cường thở dài:&lt;br /&gt;- Chắc chẳng có dịp gặp lại bọn nó quá! Mày có tính gì không?&lt;br /&gt;- Tính toán gì được ông? Bây giờ còn chưa biết sống chết ra sao; cứ được ngày nào hay ngày đó đã.&lt;br /&gt;- Ừ! Đành vậy. Mày còn trẻ. Ráng sống mà về. Còn tao bệnh hoạn hoài. Không biết có ra được không?&lt;br /&gt;- Hai Trại ở xa nhau quá; chứ nếu không tôi tìm cách gửi cho ông ít thuốc tây. Vũ nói.&lt;br /&gt;- Mẹ kiếp! Làm sao mà gặp được? Hôm nay đúng là may mắn, tao không ngờ gặp lại được mày. Tao mừng lắm. Nhất là biết tin tức của một số bạn bè... Để tao gói cho mày ít thuốc lào và ít đường thẻ tao vừa mua được của người làm rẫy.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;3.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Sau lần gặp gỡ tình cờ ở khu rừng tre Cẩm Đường, Vũ không gặp lại Dương Hùng Cường nữa; dù anh cố tình dò hỏi các anh em bên trại T.1 và T.3 là hai trại kế cận với T.5 của Vũ; nhưng không có kết quả gì. Vì dù ở trong cùng một Liên Trại (19) gặp được nhau đã là khó, huống gì Cường ở Liên Trại L.3, còn Vũ ở Liên trại L.1... Khi về đến Trại, Vũ mang niềm vui bâng khuâng vì gặp được bạn cố tri trong hoàn cảnh khốn cùng nhất. Vũ kể chuyện gặp gỡ Cường cho Trần Ngọc Tự  nghe khiến Tự cứ tiếc  hùi hụi là đã né không đi rừng hôm đó nên không được gặp Cường, vì Tự và Cường cùng phục vụ trong tờ báo Lý Tưởng của Binh chủng Không Quân. Bẵng đi cả năm sau, Vũ chẳng có cơ hội nào gặp lại Cường và cũng không nghe bất cứ tin tức gì về Cường nên không biết anh còn bị giam ở T.11 hay không? Trần Ngọc Tự thì đã bị chuyển ra ngoài Bắc trong đợt chuyển một số lớn anh em cải tạo thuộc thành phần bị cộng sản cho là "ác ôn, có nhiều nợ máu với nhân dân" như An Ninh, Tình Báo, Chiến Tranh Chính Trị... bị coi như nguy hiểm nên phải đầy ra núi rừng Việt Bắc vào đầu năm 1977. Cái lý do Tự bị  đưa đi Bắc chỉ vì anh đã khai cấp bậc và chức vụ là: Trung úy Chiến Tranh Chính Trị, Thư ký Tòa soạn Tập san Lý Tưởng Không Quân. Bọn Việt cộng vốn ghét An Ninh, Tình Báo và Chiến Tranh Chính Trị, mà Tự lại khai là Thư ký Tòa soạn Tập san Lý Tưởng Không Quân; bọn VC ngu dốt cho là anh có nhiệm vụ soạn tài liệu về lý tưởng cho Không quân chống cộng. Hơn nữa trong một lần học tập chính trị, Tự đã phát biểu một cách văn hoa là: "Thưa các bạn, xuyên qua quá trình lịch sử Việt Nam cận đại, đảng cộng sản Việt Nam xuyên suốt sợi chỉ hồng..." Tên quản giáo Việt cộng ngồi theo dõi buổi học tập đã chặn anh lại và "giáo dục những kẻ lầm đường lạc lối" (20) như sau:&lt;br /&gt;- Anh Tự. Anh là một người cực kỳ phản động, vào đến đây rồi mà anh vẫn còn tiếp tục chống phá cách mạng bằng cách dùng thủ đoạn chiến tranh tâm lý để tuyên truyền xuyên tạc đường lối của đảng và nhà nước ta; đổi trắng thay đen làm suy yếu đi cái tính chất vĩ đại thần thánh của đảng cộng sản ta. Đảng cộng sản VN là một đảng vĩ đại với sự lãnh đạo tài tình, sáng suốt và vĩ đại của Bác, nên đã chiến thắng được 3 tên đế quốc sừng sỏ đó là Thực dân Pháp, Phát xít Nhật và Đế quốc Mỹ; đã dẫn dắt đến chiến thắng ngày nay, giành được tự do, độc lập. Đánh bại Đế quốc Mỹ và phá tan bộ máy chiến tranh khổng lồ của Ngụy quân, Ngụy quyền Sàigòn. Vậy mà anh dám xuyên tạc lịch sử Việt Nam là cận đại Lịch sử Việt Nam chỉ có vĩ đại chứ làm gì có cận đại? Đảng cộng sản Việt Nam với biểu tượng là lá cờ đỏ rực rỡ thì anh xuyên tạc ra là sợi chỉ hồng là thế nào?&lt;br /&gt;Cả Tổ đã không nhịn được cười trước sự lý luận ngu dốt và sự hiểu biết nông cạn của tên cán bộ VC. Chính vì vậy mà y đã ghim Tự vào trong hồ sơ đen của những người ngoan cố chống đối; và hậu quả là trong đợt chuyển trại lần này nhằm đem những tên nguy hiểm ra Miền Bắc, nơi  có điều kiện giam giữ khắc nghiệt hơn.&lt;br /&gt;Hôm Tự đi, Vũ đưa tiễn ra tận cổng trại, một đoàn người tiễn đưa bịn rịn. Tự cười toe toét, đưa tay sửa lại gọng kiếng cận thị nói:&lt;br /&gt;- Kỳ này tớ lại có dịp thăm lại Ninh Bình quê tớ rồi.&lt;br /&gt;Vũ nhét vào tay Tự mấy vần thơ anh viết tặng Tự và dặn "...Đọc xong thì đốt đi!"&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;TIỄN BẠN LƯU ĐẦY ĐẤT BẮC&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;         (Tặng Trần Ngọc Tự)&lt;br /&gt;&lt;em&gt;Mày đi nặng gánh lao tù&lt;br /&gt;Gió mưa Việt Bắc mịt mù từ đây&lt;br /&gt;Còn tao heo hút chân mây&lt;br /&gt;Khổ sai, lao dịch dưới tay vượn người&lt;br /&gt;Mày đi, môi vẫn mỉm cười&lt;br /&gt;Cỏ cây rũ rượi khóc lời chia xa…&lt;br /&gt;&lt;/em&gt;&lt;br /&gt;(Viết tại Long giao 1977 - VUG)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;4.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Đến cuối năm 1977, khi mặt trận vùng biên giới Việt - Miên trở nên sôi động, tình hình chiến sự không còn ở mức va chạm nho nhỏ vì hiểu lầm nhau nữa mà chuyển sang mức độ giao tranh lớn. Khi ấy tình nghĩa của hai nước "cộng sản xã hội chủ nghĩa anh em đời đời bền vững" Việt Miên đã tan vỡ sau khi tình hữu nghị Việt - Hoa đã biến thành thù hận. Mặt trận ở biên giới phía Bắc đã khiến cho "tên đàn em phản trắc Bắc Việt" phải nghĩ đến chuyện thanh toán "tên đàn em phản trắc" Khmer. Khu vực Liên Trại L.1/ Trại giam Long Giao được lệnh giải tán, dồn tù cải tạo sang Liên Trại L.3 để lấy khu L.1 trống làm chỗ huấn luyện tân binh cho lực lượng SPK. Lực lượng Cách Mạng Giải Phóng Kampuchia là con đẻ của CSVN. Chúng lập ra Lực lượng này gồm một số lớn là đồng bào Việt gốc Miên ở vùng biên giới Gò Dầu Hạ, Vĩnh Bình, Bạc Liêu, Sóc Trăng, Châu Đốc... bị VC lùa bắt dồn về L.1. Chúng bắt đủ mọi thành phần dân chúng, người già, trẻ em, đàn bà...không từ một ai; tất cả những người sống ở những vùng giáp ranh với Miên đều chúng bắt lùa vào các trại thuộc Liên Trại L.1, mà chúng đã dụ dỗ họ là chở đi tị nạn, tránh sự tấn công sát hại của người Miên. Ngay khi vào Trại, chúng liền lập thành đội ngũ, phát quân phục bộ đội và cho tập tành thao diễn cơ bản. Xen lẫn vào đám dân lành này là những cán binh Việt cộng được cài vào để nằm chung trong đội ngũ Lực lượng SPK, chuẩn bị cho kế hoạch xâm lược Kampuchiạ Bọn tù cải tạo như Vũ nhìn thấy cảnh những người dân lành bị lùa vào trại tập trung như một bầy gia súc mà thương hại cho họ vô cùng; có những em bé mũi dãi còn chảy lòng thòng đói ăn mặt mũi vêu vao; có những bà mẹ trẻ, bồng con còn đỏ hỏn trên tay; có những cụ già móm mém tóc bạc da mồi... họ chẳng biết gì về chiến lược lớn của đảng nên khóc lóc, kể lể, phản đối đòi về quê hương xứ sở thì bị bọn cán bộ canh gác đánh đập tàn nhẫn... Bọn Vũ thấy vậy thương hại thường nhín phần ăn thiếu thốn của mình ném sang cho họ. Nhất là lúc này đang là mùa thu hoạch lúa, ngô, khoai, sắn, nên bọn Vũ có "chôm" (21) được nhiều lương thực cất giấu dự trữ phòng khi đói. Bây giờ được dịp cứu đói mấy người dân lành bị VC bắt ở vùng giao tranh với Miên lùa về đây…&lt;br /&gt;Các tù nhân cựu quân nhân VNCH thuộc Liên trại L.1 bị lùa sang Liên Trại 3, họ dồn các trại lại với nhau: Hai trại T.2 và T.5 dồn chung vào trại T.13 ở sát hàng rào trại T.11; Hai trại  T.3 và T.1 dồn vào trại T.12. Ngay buổi chiều hôm ấy, bên hàng rào trại T.11 và T.13 đã trở thành cái chợ trời ồn ào. Tù nhân hai trại túa ra hàng rào tìm bạn bè, thân thuộc. Tiếng kêu réo nhau vang động cả một khu vực. Dịp này Vũ cũng gặp lại một số bạn bè cũ như Dương Hùng Cường, Trần Quan Điêu (22), Đoàn Đức Thuận (23), Trần Văn Quốc (24)...&lt;br /&gt;Vũ và Cường đứng bên hàng rào vừa trò chuyện, vừa thông báo cho nhau tất cả những diễn biến sau hơn một năm đứt liên lạc. Thôi thì đủ thứ chuyện... từ chuyện tiễn Trần Ngọc Tự đi Bắc, đến chuyện Thanh Trang, Nguyễn Đăng Thạch được thả về... miên man mãi đến tối mịt.&lt;br /&gt;Vũ ném sang cho Cường mấy cuốn truyện mà anh giấu được trong Trại. Suốt thời gian này, Vũ được anh em đồng tù gọi đùa là "Thư Viện Quốc Gia" vì cất giấu nhiều sách chống cộng được xuất bản từ trước năm 1975, và bí mật chuyền tay cho anh em trong trại đọc; dĩ nhiên chỉ chuyền trong số những người thật thân thiết và tin cậy được. Trong số này có các quyển Giai Cấp Mới của M.Djilas (25), Georghiu, Nguyễn Mạnh Côn, Vũ Khắc Khoan v.v... anh đã chuyền sang cho Cường đọc. Một hôm gặp nhau ở hàng rào, khi trả lại cho Vũ quyển Giờ Thứ 25 (La Vingt-Cinquième Heure) của Georghiu, Cường nói:&lt;br /&gt;- Mẹ kiếp! Bây giờ đọc lại mấy quyển sách này mới thấm thía cái cảnh tù đầy triền miên, đi hết trại tù này sang trại tù khác của anh chàng Moritz. Mình thì cũng vậy; có khác gì đâu? Cũng chuyển hết trại này sang trại khác, cũng khổ như chó...&lt;br /&gt;- Ông có xem cuốn phim đó chưa? Thằng Anthony Quinn đóng vai Moritz sao mà hay thế. Vũ nói:&lt;br /&gt;- Có. Tao chịu nhất cái scène nó phải diễn xuất nửa cười nửa mếu của anh chàng Moritz khi hai thằng phóng viên phỏng vấn, chụp hình...&lt;br /&gt;Ngày và tháng cứ trôi đi hờ hững, những người tù sống chen chúc trong các trại T.11 và T.13 Long Giao, hàng ngày vẫn bị đầy ải trong các công tác lao động khổ sai. Trại L.1 cũ nơi Vũ bị giam sau một thời gian giam giữ những người Khmer Krôm (người Việt gốc Miên), bây giờ lại nhốt thêm những người Khmer chính gốc bị bắt ở những làng giáp ranh biên giới đem về và họ cũng được cấp phát quân phục bộ đội, hàng ngày cũng ra sân tập diễn hành và cơ bản thao diễn (VC sau này xử dụng họ để núp dưới chiêu bài là Lực Lượng SPK để tràn sang Kampuchia cướp chính quyền của bọn Pon Pot và Ieng Sari nhưng họ chỉ là bình phong còn còn nỗ lực chính vẫn là quân đội của CSVN). Số tù Miên mỗi ngày một đông ở xen lẫn với đám bộ đội VC hàng ngày cứ đứng dọc hàng rào chờ nhóm tù cải tạo đi lao động về để ngửa tay xin củ sắn, củ khoai đám tù mót được ngoài ruộng, ngoài rẫy.&lt;br /&gt;Lại sắp đón một cái Tết nữa trong tù, Tết Mậu Ngọ... và cũng là thời điểm sắp đến hạn 3 năm tù mà trước đây VC thường cho tù nhân học tập về cái mốc để học tập cải tạo tiến bộ. Nhân dịp này Trại tổ chức một đợt học tập nhằm trấn an sự nôn nóng của một số tù nhân nhẹ dạ ngây thơ tin vào những hứa hẹn của VC. Đa số tù cải tạo đã quá ê chề với những lời nói của VC nên trong trại họ thường nhắc nhở nhau câu nói của Ông Nguyễn Văn Thiệu, cựu Tổng Thống VNCH: "Đừng nghe những gì CS nói mà hãy nhìn kỹ những gì CS làm" nên anh em thường bỏ ngoài tai những tuyên truyền láo khoét của cán bộ cai tù. Vì vậy khi cộng sản đưa ra chiêu bài cái mốc học tập cải tạo 3 năm, anh em chỉ cười và an tâm với cái mốc ở tù "mút mùa lệ thủy" cho nó chắc. Tiêu đề của đợt học tập kỳ này là: "Củng cố niềm tin vào đảng cộng sản và hạ quyết tâm học tập cải tạo cho đến khi nào tiến bộ thì về". Cái tiêu chuẩn mơ hồ "đến khi nào tiến bộ thì về" là một cái bánh vẽ nhằm trấn an, lừa mị những người ngây thơ, ngu dốt chứ chẳng gạt được ai. Nhiều người khi trước vì quá tin vào lời hứa hẹn học tập 3 năm nên đã tích cực lao động hùng hục, đoạt nhiều thành tích xuất sắc, được biểu dương trước Đội, trước Trại và trước Liên Trạị..; trong sinh hoạt hàng ngày thì tích cực đấu tranh phê bình bới móc người khác. Họ nghĩ rằng như thế là học tập - thật là tội nghiệp cho hai chữ học tập vô cùng - nghĩ rằng như thế thì sẽ chóng được thả về... Nhưng nay được học về “Củng cố tư tưởng…” họ sinh ra bất mãn, căm phẫn; vì thế để cho số này bớt uất ức, trong một buổi lên lớp ở Trại T.11, Cường đã đứng giữa hội trường lớn tiếng chất vấn giảng viên về sự thiếu thành thật của bài học về cái mốc cải tạo 3 năm và bài học mới về củng cố tư tưởng quyết tâm học tập lâu dài này mà anh kết án là sai chính sách, lừa mị và gian dối... Tên giảng viên cứng họng trước lý lẽ sắc bén của Cường. Anh em sửng sốt trước lời phát biểu cứng rắn, mạnh mẽ của Cường. Ai cũng nghĩ rằng thế nào anh cũng sẽ bị nhốt vào nhà kỷ luật; nhưng anh chỉ bị gọi lên làm bản tự kiểm điểm rồi được cho vào trại.&lt;br /&gt;Sau khi các Cải tạo viên làm xong Bản Thu Hoạch và hạ quyết tâm tin tưởng vào đường lối chính sách nhất quán của đảng cộng sản Việt Nam là giam giữ lâu dài bọn Ngụy Quân, Ngụy Quyền phản động; để an tâm ngồi tù. Toàn thể 3 trại T.11, T.12 và T.13 đều bị giải tán để biên chế sang hai trại T.14 và T.15 ở gần sát hàng rào tiếp giáp với Quốc lộ. Trại 11 và  một nửa trại 12 được đưa vào T.14; còn T.13 và một nửa còn lại của T.12 chuyển vào Trại T.15. Cường về T.14, còn Vũ sang T.15. Khi vào Trại, Vũ gặp Dương Cự, Dương Kiền, Châu Kim Thi (26), Khả Năng (14)... cùng ở chung một trại với anh. Về trại mới, Khả Năng được giao làm trưởng bếp lo nấu nướng cho anh em toàn trại.&lt;br /&gt;Đêm thứ hai, ngay sau khi chuyển sang Trại T.15, Vũ lợi dụng đêm tối đã leo rào chui sang T.14 tìm Dương Hùng Cường. Phải mất khá nhiều thì giờ anh mới tìm thấy dãy nhà Cường ở, sau khi dò hỏi nhiều người. Dãy nhà giam Cường nằm gần khu nhà bếp. Đây là những barracks bằng ván thông do Quân đội Mỹ cất lên làm doanh trại đồn trú của Sư đoàn 1 Không Kỵ Hoa Kỳ từ trước năm 1972. Cũng như tất cả các trại giam khác, tù nhân nằm xếp lớp như cá mòi hai bên, mỗi người chỉ có một chiều ngang vừa đủ thân mình. Sở dĩ Vũ liều lĩnh leo rào sang thăm Dương Hùng Cường là vì buổi chiều, trong khi lao động ngoài rẫy anh được Đoàn Đức Thuận báo cho biết Cường đang bị đau nặng, có lẽ do chuyển trại phải khuân vác mệt quá sức anh chăng? Vì vậy Vũ quyết định vượt rào sang thăm bạn và mang cho Cường một ít thuốc tây.&lt;br /&gt;Cường đang nằm dài trên nền đất, dưới ánh sáng vàng vọt, èo uột của ngọn đèn chai. Trông anh có vẻ mệt mỏi nhiều. Cường mừng rỡ ngồi nhỏm dậy khi nhìn thấy Vũ.&lt;br /&gt;- Làm sao mày sang đây được?&lt;br /&gt;- Nghe nói ông bị bệnh, tôi leo rào sang xem ông thế nào, nhân tiện mang cho ông ít thuốc tây.&lt;br /&gt;- Tao cảm thấy mệt nhiều. Mấy năm nay cái phổi hành tao muốn chết luôn. Không biết có qua khỏi không?&lt;br /&gt;- Sao ông bi quan quá vậy? Ráng uống thuốc và giữ gìn sức khỏe. Mình phải sống để viết chứ. Phải nói cho hậu thế biết cái thảm trạng của đất nước ngày nay do ai gây ra chứ!&lt;br /&gt;- Ừ! Tao cũng nghĩ  như vậy nên cố ráng sống cho qua ngày. Mày cũng biết đấy. Nhà tao chẳng dư giả gì, nên thỉnh thoảng bà ấy mới có điều kiện thăm nom tao. Mấy năm nay tao đâu dám cho bà ấy biết tình trạng sức khỏe suy yếu của tao...&lt;br /&gt; - Thôi! Ông đừng nghĩ ngợi vớ vẩn. Tôi sẽ đi kiếm thêm cho ông một số thuốc nữa. Đừng lo lắng làm gì cho hại sức khỏe. Tôi tin rằng với sự giao thiệp rộng của tôi, bằng hữu sẽ sẵn sàng giúp lại khi cần.&lt;br /&gt;Cường miên man nhắc nhở những kỷ niệm trong đời sống quân ngũ của anh; những kỷ niệm của đời viết văn, viết báo. Cường cũng thổ lộ cho Vũ biết anh có một người bà con rất gần là cán bộ  khá lớn ở Miền Bắc, họ đã bảo lãnh cho anh. Mới đây, anh được tên Chính trị viên Trại cho biết anh có thể sẽ được về phép vài ngày do sự can thiệp của người bà con là cán bộ cộng sản nói trên. Có lẽ chính vì thế mà dù hôm học tập về an tâm cải tạo lâu dài anh nổi máu Dê Húc Càn đứng giữa hội trường bắt bẻ tên giảng viên mà chỉ bị làm bản tự kiểm mà thôi.&lt;br /&gt;Ngồi nói chuyện với Dương Hùng Cường cho đến khuya, Vũ chia tay leo rào trở về Trại. Ngày hôm sau Vũ tìm cách gói một gói thuốc tây  đủ loại, quyên góp được của bạn bè, ném sang bên kia rào cho Cường.&lt;br /&gt;Một hôm, khi đi cao động về, Vũ được Khả Năng cho biết tin Dương Hùng Cường vừa được đi phép 15 ngày về Sàigòn. Khi đi ngang rào T.15, Cường có nhờ Khả Năng nhắn lại cho Vũ biết...&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;5.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ngày tháng trôi qua như chiếc bóng; quay qua quay lại đã đến Tết Nguyên Đán nên toàn thể Trại được nghỉ lao động 3 ngày để vui xuân. Việt cộng cũng phát cho tù vài điếu thuốc lá Hoa Mai khét lẹt và một ít thuốc lào. Khẩu phần ăn cũng được thêm tí thịt, tí mỡ to bằng đầu ngón tay cái... Trưa mùng một Tết, Vũ đang ngồi bên hông nhà tán dóc với bạn bè thì Dương Hùng Cường leo rào sang thăm. Hai thằng ngồi trò chuyện bên hiên nhà nơi Vũ quây tấm poncho làm chỗ ngồi ăn cơm cho cả bạn. Vì là ngày Xuân, nên anh cũng vẽ một cành mai trên vách và chưng mấy nhánh hoa vạn thọ. Vũ đã viết hai chữ nho: “Sinh Sinh” trên vách với hàm ý mọi người đều được sinh tồn. Cường cho Vũ biết anh mới trở lại trại chiều hôm 29 Tết sau khi đã nghỉ 15 ngày phép ở Sàigòn.&lt;br /&gt;Vũ hỏi:&lt;br /&gt; - Sao ông không lặn luôn mà còn trở vào làm gì?&lt;br /&gt;- Lúc đầu tao cũng nghĩ như vậy, nhưng khi về nhà thấy hoàn cảnh gia đình, tao sợ liên lụy đến mọi người nên thôi. Hơn nữa tao cũng gặp người bà con cán bộ VC, họ nói kỳ này tao trở lên trại là về.&lt;br /&gt;- Vậy 15 ngày nghỉ ở Sàigòn ông làm được những gì? Tình hình chung ra sao?&lt;br /&gt;- Mày thấy đó. Nó cho tao 15 ngày phép về Sàigòn để xin một Giấy Chứng Nhận của bất cứ cơ sở nào xác nhận là sẽ thâu nhận tao vào làm, cầm nộp cho Trại thì nó sẽ thả. Vì vậy suốt mười mấy ngày tao chỉ lo chạy đôn chạy đáo gõ hết mọi cửa, đến mọi cơ quan, xí nghiệp của nhà nước xin một chân lao công, tùy phái ngõ hầu được trả tự do. Tao nhớ đến thằng Ngô Công Đức đang có trong tay tờ Tin Sáng, nên mò đến nó. Tao đâu có mơ ước cầm bút viết lách trở lại; mà viết cái chó gì ở cái xã hội này khi người cầm bút chỉ là một thứ mõ làng, một thứ máy móc viết theo toa đặt hàng của nhà nước, nói theo lời nói của đảng, nghĩ theo suy nghĩ của đảng. Tao chỉ cần nhận vào làm thợ sắp chữ, lao công lau chùi, quét dọn v.v... để được thả về. Mẹ kiếp! Thằng này dã man không chịu được. Tao đợi nó suốt 3 ngày, ngày nào cũng từ sáng đến chiều. Nó cứ cho thư ký ra nói bận, không tiếp. Đến ngày thứ tư, nó để tao chờ suốt buổi sáng mới cho vào gặp. Gặp tao nó cũng giả vờ mừng rỡ, tay bắt mặt mừng, hỏi han đủ thứ chuyện. Rõ kịch! Khi tao cho nó biết tình trạng của tao. Tao không cần phải có công ăn việc làm thật, mà chỉ cần tờ giấy chứng nhận sẽ thâu nhận để nộp cho Trại thì mới được thả về. Thế mà nó từ chối mày ạ. Tức đ. chịu được.&lt;br /&gt;Vũ chen vào:&lt;br /&gt;- Ông đến nhờ vả cái thằng phản phúc ấy làm gì? Sao không thử xoay sở mấy chỗ khác?&lt;br /&gt;- Tao lang thang suốt mười mấy ngày như vậy, hết chỗ này đến chỗ nọ. Khi đưa giấy cải tạo là chúng lắc đầu nguầy nguậy, xua đuổi như xua đuổi tà. Thế mới biết tụi nó chèn ép mình, đẩy mình vào tuyệt lộ, cùng đường; coi mình như hủi không muốn giây vào. Ngày thứ 14, tao đang đạp xe lang thang trong tuyệt vọng; bất ngờ lại gặp thằng Hoàng Trọng Miên ở bùng binh chợ Bến Thành. Mày còn nhớ thằng Hoàng Trọng Miên không? Đúng là trời giúp mày ạ! Gặp tao nó hỏi han tíu tít, thân tình lắm chứ không lạnh nhạt đẩy đưa như thằng Ngô Công Đức; và khi nghe tao tả oán về cái vụ chạy đi xin 1 tờ Giấy Chứng Nhận sẽ tuyển dụng làm công nhân viên, nó liền kéo tao vào một quán cà phê lề đường, móc trong cặp ra một tờ giấy đã đánh máy sẵn hí hoáy viết. Viết xong, cũng lại lôi trong cặp ra một con dấu ịn vào đấy một phát, rồi đưa cho tao. Nó nói:&lt;br /&gt;- Đây là Giấy Chứng Nhận sẽ tuyển ông làm Nhân Viên Hậu Đài của Đoàn Văn Công Thành Phố. Ông đem lên trại nộp cho họ rồi chờ ngày được phóng thích nhé.&lt;br /&gt;Tao kinh ngạc nhìn thằng Hoàng Trọng Miên, rồi nhìn tờ giấy... Thì ra nó là Giám Đốc Đoàn Văn Công Thành Phố mày ạ! Thế là tao có tờ giấy trong tay. Ai ngờ có ngày mình lại làm "gã kéo màn". Mình đã nhố nhăng nhiều quá rồi, bây giờ đi kéo màn cho thiên hạ đóng tuồng cũng vui...&lt;br /&gt; - Kể cũng may. Thôi cũng hy vọng ông sớm được về cho chị ấy đỡ lo lắng và ông có phương tiện chữa bệnh. Bây giờ ông nói chuyện tình hình bên ngoài như thế nào? Liệu có sáng sủa không?&lt;br /&gt;Cường kể tóm tắt cho Vũ nghe tình hình xã hội bên ngoài, từ chuyện bọn đầu sỏ Hà Nội hấp tấp gạt bỏ tụi Giải Phóng Miền Nam và bọn tay sai ăn cơm Quốc Gia thờ ma cộng sản; gây nên một làn sóng bất mãn và chia rẽ trong nội bộ đến tình hình dân chúng chống đối ở Miền Nam... và tình hình an ninh chung trong xã hội của Việt cộng sau hơn 2 năm cưỡng chiếm Miền Nam v.v... Cường nói:&lt;br /&gt;- Tóm lại, tình hình xã hội thì vô cùng khó khăn vì bọn VC kiểm soát gắt gao về lương thực. Đời sống người dân nghèo khổ. Nhiều nơi nổi lên chống đối bị bọn chúng thẳng tay đàn áp và tiêu diệt một cách dã man. Tin đồn về các ông Ngô Quang Trưởng, Nguyễn Cao Kỳ thì nhiều, giống như mình được nghe trong trại, nhưng vẫn chỉ là những tin đồn vô căn cứ và khó phối kiểm. Người ta thi nhau vượt biên nhiều vô số kể; nó đang trở thành một cái mode, một phong trào mà VC không cách nào ngăn cản nổi. Có những thằng vừa ngồi uống cà phê với mình bữa nay, ngày mai đã nghe tin biến rồi. Phe VC trốn đi cũng không phải là ít, chúng từ Hải Phòng chỉ cần đi thuyền buồm là sang đến Hồng Kông dễ dàng. Mày đừng có nản chí; ráng sao về được, bọn mình tìm cách chơi lại tụi nó. Tao đã liên lạc được mấy thằng đệ tử của ông Kỳ, tụi nó còn hăng lắm, còn cất giấu nhiều súng đạn lắm...&lt;br /&gt;Hai thằng ngồi nói chuyện với nhau suốt mấy tiếng đồng hồ. Đến chiều Cường mới từ giã trở về trại T.14. Trước khi về, Cường nhìn trên vách thấy 2 chữ “Sinh Sinh” nên hỏi: “Mày viết phải không? Nét chữ mày vẫn bay bướm lắm. Để tao đối lại nhé”. Nói xong, Cường lấy cây bút viết  hai chữ “Xuất Xuất” (với hàm ý mọi người được sinh tồn và sẽ ra khỏi trại) lên vách tạo nên một vế cân đối và ý nghiã: mọi người sống sót và được về hết cả. (27)&lt;br /&gt;Dương Hùng Cường đi rồi mà Vũ còn bâng khuâng ngồi nhìn ra sân nắng. Mắt trời đang ngả dần về hướng Tây, hắt những tia nắng vàng vọt trải dài trên những tàn cây cao. Bất giác thi hứng nổi lên, Vũ cầm bút viết một bài thơ Xuân để kỷ niệm buổi gặp gỡ đầu xuân trong lao tù giữa hai người bạn cố tri:&lt;br /&gt; &lt;br /&gt; XUÂN Ở LONG GIAO&lt;br /&gt;   (Tặng bạn tôi Dương Hùng Cường)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;em&gt;Heo hút đồi cao bụi phủ mờ&lt;br /&gt;Những thân còm cõi dáng chơ vơ&lt;br /&gt;Bốn vòng gai sắc như dao nhọn&lt;br /&gt;Đâm suốt hồn ai nhát hững hờ?&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Đã mấy mùa xuân trong đớn đau&lt;br /&gt;Cao su vàng lá úa u sầu&lt;br /&gt;Bọn ta chung kiếãp tù tăm tối&lt;br /&gt;Ngày tháng chừng trôi qua rất lâu.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Từ đáy ngục sâu gặp cố tri&lt;br /&gt;Cầm tay chẳng biết nói năng chi&lt;br /&gt;Rưng rưng khóe mắt đôi giòng lệ&lt;br /&gt;Tủi hận vương đầy trên lối đi.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Cùng đón xuân sang giữa ngục tù&lt;br /&gt;Chẳng trà, chẳng bánh, chẳng hạt dưa&lt;br /&gt;Uống ly nước lạnh thay men rượu&lt;br /&gt;Rồi cũng rền vang mẩu chuyện xưa&lt;br /&gt;&lt;/em&gt;&lt;br /&gt;(VUG - Long Giao Xuân Mậu Ngọ 1978)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Buổi tối, Vũ leo rào sang trại T.14 đưa cho Cường bài thơ. Đọc xong, Cường tỏ vẻ xúc động, khóe mắt có những giọt long lanh. Anh nói:&lt;br /&gt;- Có lẽ vài ngày nữa tao được về. Mày có cần nhắn gì ở nhà không? Chắc không có dịp gặp mày trước khi về quá; vì sợ lúc đó mày đi lao động. Thôi thì cố giữ gìn sức khỏe và vững tinh thần nghe mày.&lt;br /&gt;Hai thằng ngồi dưới hiên nhà cho đến khuya. Sương xuống lành lạnh. Văng vẳng từ đám đông gần đó, tiếng anh chàng Kháng Sơn đang hát một bản nhạc lời Việt dựa theo nhạc của bài "Proud Mary" của Mỹ:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;em&gt;"Rồi một ngày nào trong tù cải huấn&lt;br /&gt;Anh với tôi cùng nhau ra sức phấn đấụ&lt;br /&gt;An tâm! An tâm! Nhưng còn tin mù mờ...&lt;br /&gt;Rồi một ngày nào được phân công đi vùng kinh tế mới&lt;br /&gt;Anh với tôi chúng ta cùng nhau bối rối.&lt;br /&gt;Không đi! Không đi! Ta cùng nhau ù lì..."&lt;br /&gt;&lt;/em&gt;&lt;br /&gt;Tiếng cười dòn dã của các tù nhân khi nghe bài hát của Kháng Sơn đã làm vơi đi nỗi buồn xa nhà của những người tù trong ngày đầu xuân.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;6. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Sau mấy ngày nghỉ Tết Mậu Ngọ, toàn thể tù nhân hai trại T.14 và T.15 lại bắt đầu lao vào công tác lao động khổ sai dưới sự quản thúc hà khắc của lũ cai ngục răng đen mã tấu cộng sản. Khu vực Long Giao trước kia có 10 trại giam gọi là T. thuộc hai Liên Trại L.1 và L.3; ngày nay chỉ còn 2 Trại phải thu hoạch lúa, ngô, khoai, sắn, bầu, bí, rau... của 10 trại, nên ngày nào cũng phải gánh gồng, khiêng, vác từ mờ sáng đến tối mịt. Khu lao động cách xa trại trên 10 cây số, nên phải đi bộ đến hiện trường lao động, xong lại phải khiêng sản phẩm thu hoạch được về trại nhập vào kho của Hậu Cần. Sở dĩ chúng giữ lại 2 Trại T.14 và T.15 là để có nhân công thu hoạch lúa, ngô, khoai, sắn nhập vào kho trước khi chuyển họ đi nơi khác. Các anh chàng tù cải tạo cũng đâu có dại dột gì, đoán biết được âm mưu của cộng sản, nên khi thu hoạch thường lén cho dân đi mót lúa, khoai, sắn rất nhiều sản phẩm vì có hai cái lợi: một là đỡ phải khiêng về trại nặng nề, hai là cho dân chúng để họ có lương thực cho đỡ đói, bù lại người dân cũng cho lại các anh thuốc hút hoặc đường, kẹo, bánh v.v... Có những ngày bọn cán bộ quản giáo phải tập họp tù lại để chửi bới vì những đống lúa ngô khoai mót của người dân còn cao hơn, nhiều hơn đống của cải tạo thu hoạch. Từ trên cao nhìn xuống thung lũng vàng rực lúa chín, từng đoàn tù nhân như cả một đàn kiến lớn xúm vào gặm nhấm những cánh đồng lúa vàng mênh mông, trĩu nặng bông và trên con đường nhựa dẫn về Trại Cải tạo Long Giao, từng đoàn tù nhân nhếch nhác mồ hôi, kĩu kẹt quang gánh, gánh lúa về Trại..."gánh lúa về, gánh về, gánh về..." Ngày xưa trong những ngày mùa thì niềm vui "gánh lúa về" đã được nhạc sĩ Phạm Duy diễn tả trong bản nhạc của anh khiến người nghe cũng cảm thấy vui lây cái vui được mùa; còn đám cải tạo thì chẳng vui chút nào vì họ biết chắc, có gánh lúa về thì họ cũng chỉ được những lát sắn khô chua loét, sượng sùng... Cái độc ác và dã man của Việt cộng là ở chỗ đó, bắt người tù lao động cực nhọc, làm ra rất nhiều lúa gạo nhưng không cho họ được ăn gạo mà chỉ được ăn ngô, khoai, sắn... Không chỉ những người cải tạo mới bị chúng bắt ăn độn kiểu này mà cả nước đều bị đẩy xuống đáy vực thẳm giống nhau, đều bị chúng cho hóa thú giống nhau. Có như vậy đảng mới đạt được chỉ tiêu bần cùng hóa nhân dân để khống chế cái bao tử của người dân, bắt họ phải thuần phục theo chúng muốn.&lt;br /&gt;Cường được phóng thích sau tết khoảng 5 ngày. Hôm đó tình cờ Vũ  cũng lên cơn "chây lười lao động", nên khai bệnh nghỉ ở nhà phụ Tổ tăng gia tưới rau. Khi anh đang múc nước ở giếng, bỗng nhiên nghe tiếng ồn ào bất thường bên trại T.14; anh ngừng tay đứng xem chuyện gì xảy ra thì thấy tên Chính trị viên đang dẫn Cường đi ra cổng Trại T.14, theo sau là một đám tù bàn tán xôn xao... theo đưa tiễn. Cường mặc một bộ treillis còn tương đối lành lặn, tay cầm một túi xách nhỏ, miệng cười tươi rạng rỡ. Cường dừng lại trước cổng, giơ tay vẫy từ biệt bạn bè rồi cúi đầu lủi thủi đi về phía cổng lớn của Trung đoàn để ra Quốc lộ. Vũ chạy ra sát hàng rào, đứng đón Dương Hùng Cường, vì muốn ra cổng Trung đoàn phải đi dọc hàng rào T.15. Hàng rào dày hơn 3 mét, không thể bắt tay nhau được, nên cả hai chỉ đưa tay vẫy chào nhau. May mà hàng rào mới được dẫy cỏ trống trơn nên hai người mới nhìn thấy nhau.&lt;br /&gt;- Mày ở lại ráng giữ sức khỏe và giữ mồm nghe không? Cường nhắc nhở Vũ vì anh biết tính của Vũ thẳng thắn không sợ bất cứ một thế lực, khống chế nào... Uy vũ bất năng khuất mà! Cường cũng nghe anh em nói cho biết Vũ hay phát ngôn châm chích mỗi khi học tập phải phát biểu. May mà lũ cán bộ VC ngu dốt (Vũ thường hay gọi chúng là giặc dốt và đã có lần phát biểu kêu gọi mọi người phải đứng lên diệt giặc dốt) không hiểu được cách nói của một thằng cầm bút như anh. &lt;br /&gt;- Ừ! Ông về cũng cẩn thận giữ mình. Thì ông có thua gì tôi? Cho gửi lời thăm chị và các cháu. Vũ nói.&lt;br /&gt;Cường dừng lại, nhìn Vũ thật lâu mắt ướt sũng, rồi quay lưng lầm lũi bước đi. Dáng người gầy gò, lỏng khỏng bước thất thểu về phía cổng Trung đoàn. Vũ thấy mắt mình cay cay. Anh đứng lặng bên hàng rào nhìn Cường đi mỗi lúc  một xa, nhòe nhoẹt trong màn sương mỏng của buổi sáng. Anh khẽ thở dài! Anh không ngờ đó là lần cuối cùng trong đời anh được nhìn thấy Dương Hùng Cường. (28)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;VŨ UYÊN GIANG&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt; Ghi chú:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;(1) Đi chợ: người tù chia phiên nhau mỗi ngày một người trong toán đi nhặt nhạnh rau cỏ, khoai sắn cho anh em trong toán ăm thêm nên gọi là đi chợ.&lt;br /&gt;(2) AKAMICINE: ám chỉ đạn AK.47&lt;br /&gt;(3) máu nhân dân: để chỉ rượu đế&lt;br /&gt;(4) Trần Ngọc Tự: Trung úy CTCT Không Quân. Cùng bị bắt và bị xử chung trong vụ Dương Hùng Cường, Hoàng Hải Thủy, Doãn Quốc Sĩ móc nối với nhân viên Bưu Điện gửi tài liệu ra hải ngoại. Hiện nay Trần Ngọc Tự đang định cư tại Houston, Texas&lt;br /&gt;(5) Nguyễn Đăng Thạch: Trung úy Biệt phái, Giáo sư Đại học. Thạch là con trai cụ Nguyễn Đăng Thục, Khoa trưởng Đại học Văn Khoa Sàigòn. Hiện Thạch vẫn cư ngụ ở Tân Định, Saigon.&lt;br /&gt;(6) Nguyễn Thanh Trang: Trung úy, Giáo sư Trường Võ Bị Đà Lạt, Nhạc sĩ. Hiện định cư ở Covina, California&lt;br /&gt;(7) Nguyễn Nguyên Phương: Trung úy, Giáo sư Triết.&lt;br /&gt;(8) Phí Ích Bành: Trung úy, Chủ sự Phòng Văn Nghệ/ Đài Phát Thanh Sàigòn. Bành là em ruột của nhà văn Dương Nghiễm Mậu (Phí Ích Nghiễm). Bành hiện định cư ở California.&lt;br /&gt;(9) Nguyễn Đức Quang: Trung úy, Nhạc sĩ. Hiện Quang cư ngụ ở Nam California.&lt;br /&gt;(10) Dương Kiền: Trung úy, Ủy Viên Chính Phủ Tòa Án Quân Sự Vùng 2. Hiện cư ngụ ở Na Uy.&lt;br /&gt;(11) Dương Cự: Trung úy, Ủy Viên Chính Phủ Tòa Án Quân Sự Vùng 4. Đã qua đời vào tháng 4 năm 2006 tại Saigon.&lt;br /&gt;(12) Đỗ Kim Bảng: Trung úy, Giáo sư, Nhạc sĩ&lt;br /&gt;(13) Đào Văn Khánh: Trung Úy, Ký giả báo Tiền Tuyến của Quân Đội. Khánh là phu quân cũ của nhà văn nữ Lệ Hằng. Hiện nay Khánh đang cư ngụ Texas và viết văn ký dưới bút hiệu Đào Khanh.&lt;br /&gt;(14) Kịch sĩ Khả Năng: Chuẩn úy, tên thật là Nguyễn Văn Tây, phục vụ tại Biệt Đoàn Văn Nghệ Trung Ương. Sau khi cải tạo về có làm việc cho Đoàn Văn Công Thành Phố một thời gian. Nghe nói Khả Năng đã chết trên đường đi vượt biên qua ngả Kampuchia.&lt;br /&gt;(15) Nghiêm Phú Phát: Trung úy Công Binh. Đoàn trưởng Đoàn Văn Nghệ Sinh Viên Học Sinh Nguồn Sống cùng với Hà Quốc Bảọ Phát là em ruột của nhạc sĩ Nghiêm Phú Phi. Hiện Phát cư ngụ ở California&lt;br /&gt;(16) Võ Thế Hào: Trung úy, Giáo sư Toán&lt;br /&gt;(17) Viên Linh là Tổng Thư ký Toà soạn nhật báo Hoà Bình thay thế cho Mặc Giao Phạm Hữu Giáo đắc cử Dân biểu Hạ Nghị viện. Nhưng làm được một thời gian ngắn thì nghỉ vì xích mích với Trần Hữu Quỳnh, Quản đốc của tờ báo. Hiện nay Viên Linh đang trông coi tờ Khởi Hành ở Nam California.&lt;br /&gt;(18) Du Tử Lê tên thật là Lê Cự Phách. Nguyên Vũ tên thật là Vũ Ngự Chiêu&lt;br /&gt;(19) Liên Trại cấp bộ tương đương như Trung đoàn. Gồm nhiều Trại; mỗi Trại thường mang bí số T hoặc K để giam giữ tù cải tạo.&lt;br /&gt;(20) VC thường gọi tù cải tạo là những “kẻ lầm đường lạc lối được đảng giáo dục”&lt;br /&gt;(21) “chôm”: ăm trộm&lt;br /&gt;(22) Trần Quan Điêu, Trung úy Huấn luyện viên Trường Quân Báo Cây Mai. Hiện đang định cư ở San Jose, California.&lt;br /&gt;(23) Đoàn Đức Thuận, Trung úy thuộc Phòng 2 Quân đoàn 3 Biên Hoà. Hiện đang định cư ở Anaheim, CA&lt;br /&gt;(24) Trần Văn Quốc (tên thật là Tô Hoàng Dũng), Trung úy Quân Báo thuộc Trung Tâm Thẩm Vấn Biên Hoà, hiện đang cư ngụ ở San Jose, CA&lt;br /&gt;(25) M.Djilas: Lý thuyết gia hàng đầu của cộng sản Nam Tư. Ông thoát ly đảng cộng sản và viết quyển Giai Cấp Mới để tố giác trước công luận những tội ác của cộng sản.&lt;br /&gt;(26) Châu Kim Thi, Trung úy thuộc Chiến Tranh Chính Trị Sư đoàn 18 Bộ Binh.&lt;br /&gt;(27) Không ngờ việc đối đáp tình cờ giữa Dương Hùng Cường và Vũ lại trở thành sự thật sau đó vài tháng; toàn thể khu Trại giam Long Giao đã giải tán, mọi người đều rời khỏi Trại giam này. Cường được thả về, còn Vũ và các bạn bè khác bị chuyển đi các Trại tù khác ở Hốc Môn, Bù Gia Mập hoặc Xuyên Mộc v.v…&lt;br /&gt;(28) Dương Hùng Cường sau khi ra khỏi nhà tù Long Giao (Long Khánh), anh cùng Trần Ngọc Tự đã viết bài phiếm  “Khi Chàng Trương Chi Không Đẹp Trai”, nội dung ví von cộng sản như anh chàng Trương Chi và nhân dân Miền Nam VN như Công chúa Mỵ Nương mê tiếng sáo của Trương; nhưng khi gặp được chàng thì thất vọng vì dung nhan xấu xí của Trương Chi. Cũng như nhân dân Miền Nam nghe lời tuyên truyền đường mật của cộng sản nhưng thất vọng não nề khi phải sống dưới chế độ hà khắc của cộng sản. Bài này đã được nhiều báo ở hải ngoại đăng tải. Dương Hùng Cường đã cùng một số anh em văn nghệ sĩ như Hoàng Hải Thủy, Trần Ngọc Tự, Doãn Quốc Sỹ, Duy Trác v.v... móc nối với 1 nhân viên Bưu điện để chuyển các bài viết ra nước ngoài và bị VC kết án là “Những Tên Biệt kích cầm bút”, bị bắt giam ở Trại Phan Đăng Lưu, Gia Định. Anh đã bị chết trong lao tù này.&lt;br /&gt; &lt;/div&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/9009333266934427487-7580163618965273640?l=trenduongbiengioi.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://trenduongbiengioi.blogspot.com/feeds/7580163618965273640/comments/default' title='Post Comments'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://trenduongbiengioi.blogspot.com/2009/10/mot-thoang-ky-niem.html#comment-form' title='0 Comments'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/9009333266934427487/posts/default/7580163618965273640'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/9009333266934427487/posts/default/7580163618965273640'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://trenduongbiengioi.blogspot.com/2009/10/mot-thoang-ky-niem.html' title='MỘT THOÁNG KỶ NIỆM'/><author><name>Vũ Uyên Giang</name><uri>http://www.blogger.com/profile/14317469376846546930</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='27' height='32' src='http://4.bp.blogspot.com/_a9tmOxlA1Y8/SurV9bfSPWI/AAAAAAAAAAU/3GQa-eia6Kw/S220/vinh1.jpg'/></author><thr:total>0</thr:total></entry></feed>
