Wednesday



-->
Đọc Sách Trên Đường Biên Giới
của Vũ Uyên Giang
Đông Anh
Trong một buổi trưa giữa mùa thu, anh Phan Bá Thùy Dương cùng đi với anh Vũ Uyên Giang đến thăm Cơ Sở Lạc Việt tại San Jose. Nhân dịp này anh Vũ Uyên Giang đã ký tặng cho cá nhân tôi cuốn sách của anh do nhà xuất bản Đất Sống mới tái bản năm 2007. Cuốn Trên Đường Biên Giới mà anh gọi là Tập truyện. Sở dĩ gọi là tập truyện vì sách gồm 12 truyện kể. Phần đông truyện kể đều viết về tình bằng hữu với những kỷ niệm xưa lúc còn huy hoàng hay khi đã long đong trong lao cải.
Phần 13 là Những Bài Thơ Rời phần nhiều là xướng họa về những chuyện cũ hoặc mới sảy ra bên ly rượu trong tiêm ăn do anh làm chủ ở San Leandro.
Vũ Uyên Giang là Sĩ Quan QLVNCH phục vụ trong ngành quân báo. Trước đó anh là ký giả viết cho một số báo nổi danh tại Sài Gòn. Mất nước anh cũng đi tù rồi cũng vượt biên tìm tự do. Khi vượt biên đến Thái Lan, vốn là nhân viên tòa đại sứ Mỹ tại Sài Gòn trước năm 1975 nên anh được thâu nhận vào làm việc cho tòa đại sứ Mỹ tại đây, đảm trách công việc phỏng vấn tù binh Cộng Sản Việt Nam bị bắt ở Kampuchia. Duyên số như vậy nên anh mới có cơ hội gập gỡ Lý Tống, gặp gỡ một số quân nhân QLVNCH trong các trại tỵ nạn Thái Lan, những người đang khao khát mong ngày giải phóng quê hương.
Truyện chính trong tập truyện này là Trên Đường Biên Giới, tựa đề của sách. Trong lời mở đầu anh đã viết như sau: “Đây là một câu chuyện có thật xảy ra vào thời gian năm 1982 tại vùng biên giới Thái-Miên, Aranya Prathet. Tác giả sống ở vùng này một thời gian ngắn và đã trực tiếp chứng kiến nên ghi lại trong truyện như những giòng hồi tưởng một quãng đời đã qua, để nhớ những người bạn đã gặp trên bước đường lưu lạc. Tên các nhân vật trong truyện đều là những người có thật mà tác giả có dịp được găp.”
Chuyện có thật là những chuyện gập gỡ và phỏng vấn các sĩ quan hoặc nhân viên thuộc VNCH ngày trước, chuyện đi tìm và giải cứu Lý Tống, chuyện những cán binh Việt Cộng bị bắt ở Kampuchia, chuyện người Mỹ trong tòa đại sứ tại Thái v. v...
Nhân vật có thật là những người làm việc cùng lãnh vực như Thạch Thom, như Larry, như Nguyễn Văn Minh một người Mỹ tên Việt, nói tiếng Việt rành rẽ, những người trong trại tỵ nạn, những bộ đội cộng sản Việt Nam như Bùi Văn Tranh. Nhờ có Bùi Văn Tranh mà sự liên lạc giữa Lý Tống ở trong tù và tác giả thêm mật thiết. Như đại tá Tong Den đơn vị 506, người rất ghét Lý Tống. Đặc biệt là chuyện kể về Lý Tống với những chi tiết khá thú vị. Những bức thư và những bài thơ trao đổi giữa Lý Tống với Vũ Uyên Giang. Truyện Trên Đường Biên Giới được kết thúc bằng lá thư của Lý Tống sau khi vượt thoát trại giam Thái Lan trên đường tìm tự do. Bức thư đề ngày 14 thâng năm 1983 tại Galang.
Mười một truyện khác ghi lại những kỷ niệm với bạn bè như Một Thoáng Kỷ Niệm viết về Dương Hùng Cường trong trại cải tạo. Truyện Món Quà Cuối Năm là chai rượu bách nhật do mẹ gửi vào tù được ngụy trang dưới hình thức chai nước mắm. Nhờ có chai rượu nếp than bách nhật mà bữa tiệc cuối năm trong trại Suối Máu ghi sâu trong tâm khảm của tác giả và của các bạn tù.
Truyện thứ tư viết cho kỷ niệm với nhà thơ điên Bùi Giáng bên ly cà phê đen đậm. Nhà thơ nhất định không nhận tên mình là Bùi Giáng mà lấy tên Bàng Giúi, trả tiền cà phê bằng những tờ giấy báo. Ai bảo rằng nhà thơ điên! Điên trong chế độ mới!
Truyện thứ 5 Thương Tiếc viết về Đại úy Nguyễn Thanh Thu, người sáng tác và dựng nên bức tượng nổi danh trên nghĩa trang quân đội Biên Hòa. Tượng Thương Tiếc. Sau khi giật đổ tượng, kẻ chiến thắng dồn mọi thù vơ oán chạ lên đầu người tạc tượng. Hành cho đến chết, không chết, đổi đi trại khác tiếp tục hành cho đến khi nào ngã gục mới thôi!
Truyện kế tiếp nói lên tình huynh đệ chi binh. Người đi trước bao bọc kẻ đến sau. Người bên Mỹ cưu mang người ở đảo để đem nhau về sống cùng một thành phố có khi cùng sống một nhà, đối xử với nhau chẳng khác chi nhân tình;
Huynh đệ chi binh là gì đó anh hai?
Huynh đệ chi binh là tình cùng chung đời lính...
thương nhau khác chi nhân tình...
Người lưu vong khắc khoải nhớ nhà. Nhớ sông Tiền, sông Hậu. Nhớ ao cá vườn rau. Mơ ước một mùa xuân ngay trên quê hương mình.
Truyện về Nguyễn Bính cùng những kỷ niệm thời còn nhỏ với những vần thơ êm đềm lãng mạn...
Truyện Lạc Vào Cõi Chết rất lạ. Tả một anh chàng say rồi ngất sỉu phải đưa vào nhà thương, từ đó anh như mộng du, hồn lang thang khắp đó đây. Hồn đến thăm người tình và chợt nhớ lại từ tiềm thức những lời nỉ non dặn dò: “Sao anh thương em nhiều quá vậy? Có thật là anh thương em còn hơn thương cả chính thân anh không? Sao anh dại quá vậy? Sao anh không nói gì với em vậy? Anh hứa chờ em 30 năm mà sao anh đòi chết? Đừng chết nghe anh!...”
Thế là chàng nhập lại vào xác mình, ngồi dậy dưới con mắt ngơ ngác của bác sĩ và y tá.
Truyện nặng phần triết lý. Triết lý về con người, về tình yêu, về cuộc sống...
Truyện thứ 9 nói về một cuộc nhập ngũ Hải Quân bất thành vì thiếu cân lượng. Thôi không làm kình ngư lướt sóng thì ta đành đi bộ vậy thôi. Tác giả nhập ngũ và học tại Trường Bộ Binh Thủ Đức, ra trường với cấp bậc Chuẩn úy. Đi bộ binh, ngành Quân báo. Sau cuộc đổi đời Tháng Tư năm 75 thì Hải Quân hay Lục Quân cũng về một mối trong trại tập trung để nghe như nghìn tấn đá ở trong lòng!
Truyện Đợi Chờ hình như rất hiếm xảy ra trên cõi đời này, hay lại là rất thường xuyên sau cuộc đổi đời 1975. Người chồng bị vợ đưa vào mê hồn trận. Bạn trai của vợ nhảy với nàng nhiều nhất trong ngày cưới. Bạn trai đóng vai anh họ đến thăm nơi hai vợ chồng cư ngụ và họ cùng nhau cuốn gói ra đi. Người chồng vẫn ở căn nhà cũ, vẫn giữ hình ảnh kỷ niệm xưa và có một điều rất lạ là chàng vẫn mong nàng trở lại.
Truyện kế tiếp là Món Quà Xuân Vô Giá cũng kể chuyện về tình huynh đệ chi binh. Người chiến hữu nhớ cấp trên trong những buổi sáng mùa đông, trong những độ xuân về trên dất khách để ôn lại chuyện xưa. Ngồi đây mà nhớ:
“Vang súng đạn thù trên trận tuyến.
Sa trường binh lửa nặng oằn vai.”
để tiếc buổi huy hoàng. Tiết tháng Chạp đến ông Tiểu đoàn trưởng ngày xưa đang ngồi bó gối nhìn trời lạnh lẽo ở quê người thì món quà xuân đưa đến. Mở ra là tấm huy chương Đệ Tứ Đẳng Bảo Quốc Huân Chương của QĐVNCH. Cả quá khứ hiện về. Mắt ông Trung tá Tiểu đoàn trưởng mờ lệ!
Truyện cuối cùng là Một Buổi Sáng Tháng Chín tả về những nỗi kinh hoàng của những người trên đường phố Orlando, Florida khi nhìn hình ảnh hai tòa nhà tháp đôi ở New York bị sụp đổ tan tành. Những suy tư về cuộc sống, về sự phồn thịnh chuyển sang những ý nghĩ về khũng bố, về tang hoang. Một tháng Chín buồn.
Phần sau cùng là những bài thơ rời ghi lại những đoạn đường in dấu bước chân đi. Từ Tây Ninh, Hậu Nghĩa rồi đến những bước chân sa vào chốn tù đầy. Từ Hóc Môn ra Tân Cảng, lên tàu xuôi Nam ra Phú Quốc. Từ Long Giao về Suối Máu v.v...
Lại có những bài thơ về thăm cảnh cũ người xưa. Vài ba bạn hữu họp nhau uống rượu làm thơ tại San Leandro, Bắc California là cơ sở kinh doanh của Vũ Uyên Giang. Các bài thơ đều có bài họa của thi sĩ Hà Thượng Nhân. Bài xướng cùng bài họa thật bồi hồi xúc động.
Thơ Văn là người. Người viết thơ văn đem cả nỗi lòng mình đặt vào với văn chương, đôi khi đem cả cuộc đời mình trao trong đó. Vũ Uyên Giang, dù viết một đoạn đường đi ngắn những vẫn đầy đủ cả cuộc đời. Anh nặng tình với anh em. Huynh đệ chi binh được đề cao tuyệt đối. Anh cũng có lòng nhân ái với mọi người do vậy hơi cả tin nên đoạn đường đi thêm gập ghềnh khúc khuỷu. Nhưng có gian truân mới biết tay tài trí, có nguy khốn mới biết kẻ anh hùng.
Cuốn sách Trên Đường Biên Giới cũng không phải là cuốn đầu tiên của Vũ Uyên Giang. Cuốn đầu tiên là tập truyện Trên Đỉnh Tình Buồn xuất bản năm 1971. Mới đây anh viết chung với nhà văn Hồ Nam cuốn 100 Khuôn Mặt Văn Nghệ Sĩ tập 1.
Tôi không phải là người phê bình sách, Tôi chỉ là người đọc sách, tôi yêu cách viết truyện của anh, thấy sách hay thì giới thiệu đôi hàng cho mọi người cùng đọc. Bạn đọc cũng có thể tìm thấy những đoạn đường, những kỷ niệm cùng với tác giả, ấy là điều quý hóa vô cùng.
Đông Anh

Friday

MÓN QUÀ XUÂN VÔ GIÁ


Ông Phát ngôi thầm thũi trong bóng tối mờ nhạt của căn phòng có cái cửa sổ nhìn thẳng xuống con đường mà ông thường gọi nôm na là đường Ngàn Ốc (Thousand Oak Road), thuộc thành phố Hoàng Thành (Kingwallville). Ánh vàng vọt của ngọn đèn đường hắt vào căn phòng khiến cho mặt ông sáng một mảng trên má như người bị bệnh bạch tạng. Gia đình ông dọn về căn apartment nằm giữa khu phố bình dân của người Mỹ nghèo này được gần 1 năm nay, sau khi đến định cư ở Hoa Kỳ theo diện HO, do một Hội Nhà thờ bảo trợ thuê cho. Căn apartment 3 phòng ngủ nằm trên lầu của một tiệm hớt tóc của người Việt làm chủ nên ông cũng đỡ cảm thấy bơ vơ nơi xứ lạ.

Vợ chồng chú Toàn, chủ tiệm hớt tóc là người tốt bụng, nên đã hết lòng chỉ dẫn giúp đỡ vợ chồng ông trong khi còn bỡ ngỡ. Chú Toàn là lính hải quân đã cùng đoàn tàu rời đất nước ngay trong ngày đen tối khi miền Nam rơi vào tay giặc cộng. Sang đến Trại tị nạn ở đảo Guam, chú được một gia đình một người Mục sư da đen bảo trợ về Tiểu bang New York sinh sống. Ông bà mục sư đã giúp cho vợ chồng Toàn một công việc khá nặng nhọc trong một xưởng sắt. Được vài năm sau, nhờ một người bạn hướng dẫn, Toàn đã đi học nghề hớt tóc và mở tiệm trong khu Mỹ đen nghèo này để sinh nhai nên cuộc sống khá ổn định. Căn nhà 2 tầng đã cũ có lẽ cũng trên 50 năm tuổi thọ; lúc đầu do nhà thờ Tin lành mua để cho vợ chồng chú ở tạm; sau khi đã ổn định đời sống, Toàn đã mua lại căn nhà với gía rẻ, tầng trệt anh sửa lại để mở tiệm hớt tóc ở phía trước, còn vợ chồng anh ở ngay phía sau. Nhân khi có gia đình ông Phát cũng được ông mục sư bảo trợ đến, nhà Phát đang bỏ trống một tầng lầu nên mục sư đã thuê lại cho gia đình ông Phát tạm trú. Lâu nay bận rộn với công việc làm ăn; hơn nữa thành phố Kingwallville lại là một town nhỏ cách xa nơi thị tứ nên chẳng có mấy người Việt cư ngụ; vợ chồng Toàn cũng ít có dịp gặp gỡ người đồng hương. Có gia đình ông Phát đến ở, vợ chồng Toàn rất mừng, nhất là biết ông là Trung tá Trung đoàn trưởng một Trung đoàn Bộ binh ở miền Trung, sau ngày 30/4/75 bị kẹt lại trong nước vì những lệnh lạc quái gở của người lãnh đạo, khi thì bảo rút quân; khi lại ra lệnh cố thủ khiến binh sĩ dưới quyền không biết phải thi hành ra sao. Ông Phát quyết định ở lại với binh sĩ thuộc quyền cho đến giờ phút cuối dù ông có rất nhiều cơ hội để trốn chạy trước, nhưng ông không nỡ bỏ rơi những thuộc cấp của mình. Ông bị giặc cộng bắt cho vào nhà giam tổng cộng trên 14 năm mới được thả.

Gia đình ông Phát có hai vợ chồng và hai người con: Thu, con gái lớn đã 30 tuổi còn sống độc thân và Phong con trai út 28 tuổi; cả hai đều đã được hội bảo trợ kiếm sở cho làm nên ban ngày căn nhà chỉ còn lại hai ông bà già. Ông Phát đã trên 65 tuổi, sức khoẻ yếu kém do nhiều năm dài bị đày ải trong các nhà giam của cộng sản. Ông phải chịu đựng bao nỗi đau đớn nhục nhằn của kiếp bại binh, bị trăn trở dằn vặt vì trách nhiệm thất phu không tròn giữ nước, bảo vệ những người dân miền Nam, và thuộc cấp. Bà Phát cũng chẳng khá gì hơn vì sau ngày miền Nam bị cộng sản cưỡng chiếm, bà đã tần tảo nuôi con thơ, và dành dụm thăm nuôi chồng nhiều khi tưởng đã ngã qụy, nhưng cứ nghĩ đến chồng đến con bà cắn răng chịu đựng những sự chèn ép của những tên cán bộ cộng sản trong Phường, trong xóm.
Tuy mới sang, nhưng ông cũng đã gặp gỡ một số bạn bè cũ trong quân ngũ sang đây từ trước và cũng được nghe, được biết về tình hình phân hoá của hàng ngũ cựu quân nhân ở hải ngoại. Những người đàng hoàng đứng đắn thì chỉ nén tiếng thở dài nhìn những tan hoang của tập thể quân nhân hải ngoại. Nhiều kẻ nhi nhô tranh đoạt những hư danh, tranh chấp nhau từng lời ăn tiếng nói, ghen tị với nhau từ nhà ở, xe cộ... Có một số kẻ hèn hạ ti tiểu cấu kết với nhau thành phe nhóm đã không từ những thủ đoạn đê tiện tung thư rơi, thư rớt, thư nặc danh cố bôi nhọ, chụp mũ cho chiến hữu xưa của mình tánh cương trực, thẳng thắng là cộng sản, đẩy họ vào phiá đối phương để trở thành kẻ thù của những người tị nạn CS...; mà những người tị nạn vốn dị ứng với bọn vô thần nên dễ tin theo những kẻ chụp mũ, rồi cứ thế loan truyền bừa bãi, không cần phối kiểm... Càng nghĩ, ông càng buồn, càng chua xót cho cảnh đời lố lăng. Có cấp lãnh đạo đất nước múa rối, bốc đồng đã tuyên bố lăng nhăng chối bỏ hàng ngũ quốc gia và ngây thơ lăm le chuyện cộng tác với cộng sản. Họ đã quên một điều là cộng sản luôn luôn xảo quyệt, trí trá ngay bọn chúng với nhau còn chưa tin nhau thì làm sao chúng tin được đối phương của chúng? Dù được sang đất nước này nhưng ông vẫn căm hận người bạn Mỹ đã đâm sau lưng người Việt bằng cách đẩy cả một dân tộc vào trong vòng khổ đau ly tán. Cái danh hiệu tiền đồ chống cộng của thế giới tự do, người bạn đồng minh chẳng qua chỉ là những danh từ hoa mỹ lừa mị người lính Mỹ và người lính VNCH. Tất cả chỉ vì quyền lợi của nước họ mà họ sẵn sàng bán đứng người bạn đồng minh nhược tiểu bằng mọi thủ đoạn đê tiện nhất. Ông cũng thương những người chiến sĩ Mỹ đã đổ máu xương, sát cánh cùng ông trong những trận chiến lừng lẫy từ A Shao, A Lưới, Khe Sanh, Đông Hà..., họ cũng bị chính quyền của họ ở Hoa Thịnh Đốn lừa gạt máu xương ôm mối hận thất trận nhục nhã và bị dân chúng khinh ghét ruồng rẫy.
Sau ngày Miền Nam bị cộng sản cưỡng chiếm với sự ngoảnh mặt của người bạn đồng minh Hoa kỳ, một sự bội phản nhục nhã của một cường quốc đối với một nước đồng minh do chính Tổng thống Nixon đã cam kết, mà sau này ông đã thú nhận với báo chí rằng “khuyết điểm lớn nhất của Hòa ước Paris là cuộc ngưng bắn cho quân đôi Bắc Việt được ở lại những vùng họ chiếm giữ tại Nam Việt Nam.” Trong quyển sách “NO PEACE, NO HONOR: KISSINGER, NIXON AND BETRAYAL IN VIET NAM” (Không Hòa Bình, Chẳng Danh Dự: Nixon, Kissinger và Sự Phản Bội Ở Việt Nam) của tác giả Larry Berman, Giáo sư Chính trị Học kiêm Giám đốc Trung Tâm Nghiên Cứu Hoa Thịnh Đốn của Trường Đại Học California đã dựa vào các tài liệu mới được bạch hóa để trình bày tỉ mỉ diễn tiến những mật đàm giữa Kissinger và Lê Đức Thọ tại Paris, những cam kết của TT.Nixon với TT.Nguyễn Văn Thiệu là: “sẽ trả đũa mạnh mẽ nếu Bắc Việt vi phạm Hiệp định”, những lời hăm dọa của Kissinger với ông Thiệu: “TT.Thiệu không nên làm thánh tử đạo...”, hoặc lời hăm dọa của tướng Alexander Haig khi TT.Thiệu không chịu ký vào Hiệp định bất lợi cho VNCH: “...nếu không ký thì chúng tôi sẽ có biện pháp tàn bạo...” v.v... và v.v... để áp lực TT.Thiệu phải ký vào bản Hiệp định Paris. Ông Larry Berman cũng cho rằng khi Nixon loan báo đạt được thỏa hiệp hòa bình cho Miền Nam để rút quân Mỹ về và nhận số tù binh Mỹ bị cộng sản Bắc Việt giam cầm là “đã đạt được hòa bình trong danh dự...”; ông Nixon và ông Kissinger đã lừa bịp dân chúng Mỹ; vì hai ông thừa biết Bắc Việt sẽ khởi động cuộc chiến trở lại với sự viện trợ dồi dào của cả khối cộng sản cho đến khi chiếm được Miền Nam. Quả thật, chỉ thời gian ngắn sau đó cả Miền Nam đã bị cộng sản nhuộm đỏ...

Thiếu tá Clark, người sĩ quan cố vấn Mỹ của ông thời ông còn giữ chức Tiểu đoàn trưởng, thỉnh thoảng vẫn điện thoại thăm hỏi và than thở với ông về nỗi đau của người quân nhân Mỹ thất trận, bị cả nước quên lãng, khinh rẻ. Thế mới biết từ xưa đến nay, kẻ thắng luôn có cơ hội phét lác, huênh hoang; còn người bại binh ôm mối nhục nhằn đau đớn. Nỗi buồn như phiến đá tảng đè nặng trong tâm khiến ông trầm tư ít nói, chỉ ngồi thờ thẫn nhìn vào khoảng hư không như một kẻ mất hồn. Ông nghĩ đến những ngày chinh chiến cũ, đến bạn bè đồng đội, đến bao người đã ngã xuống trong những trận chiến long trời lở đất đem máu xương quyết bảo vệ từng tấc đất của miền Nam thân yêu trước nanh vuốt bạo tàn của cộng sản. Tất cả những hy sinh ấy trở thành vô nghĩa khi chính quyền Mỹ tháo chạy nhục nhã vào những ngày cuối Tháng Tư, trở thành phí phạm một cách không đáng. Thân phận nhược tiểu bị lệ thuộc vào nước đại cường và bị xử dụng như những con chốt thí khi cuộc cờ tàn, khi họ đã đạt được những thoả hiệp cho quyền lợi của họ, chỉ còn những tan nát, khổ đau của quân dân nhược tiểu. Sự bội phản đê hèn được che đậy bằng những lời buộc tội trâng tráo, gỉa trá hèn mạt của kẻ bội phản cốt để đổ tội cho người lính cộng hoà. Ông nghĩ, hơn hai mươi năm chiến đấu gian khổ giữ gìn miền Nam, người lính VNCH đã là những anh hùng dũng cảm tuyệt vời; đã chiến đấu một cách kiên cường, gian khổ mà trong lịch sử chiến tranh chưa một đội quân nào chịu đựng nổi. Cuộc chiến ấy, quân đội ấy với những thiếu thốn đến độ không tưởng đã giữ vững từng tấc đất của quê hương, người lính cộng hoà đã không tiếc máu xương để ngăn chặn giặc thù phương bắc tay sai của chủ nghĩa ngoại lai vong bản. Họ đã không một lời than trách, không một oán hờn, không một đòi hỏi. Họ cam chịu những thiệt thòi chỉ vững một điều chiến đấu gìn giữ quê hương, bảo vệ sự tự do cho người dân. Và cuối cùng họ đã bị đâm sau lưng bằng một nhát chí tử bởi sự bội phản đớn hèn của bạn đồng minh.
Ông Phát gục đầu xuống bàn, những ngón tay gầy guộc ôm lấy trán. Ông chợt nhớ mấy câu thơ Tiến đã gửi cho ông mà ông rất thích thú vì nó hợp với tâm trạng của những người lính trong thời tao loạn như ông khi tàn cuộc:

“...Vang súng đạn thù trên trận tuyến.
Sa trường binh lửa nặng oằn vai
Thất phu sinh giữa thời chinh chiến.
Trách nhiệm không tròn, tủi kiếp trai.”
(Thơ VUG)
Người ông sũng buồn. Hai giọt nước mắt lăn dài trên gò má nhăn nheo...

Tiến ngồi trong chiếc bàn ở góc tiệm Pizzar do anh làm chủ. Từ ngày sang Mỹ định cư, sau những ngày làm lụng vất vả, anh đã dành dụm mở nhà hàng nho nhỏ trong một thành phố mang tên Hoàng Hậu (Queen City) ở đông nam Hoa kỳ được vài năm. Công việc cai quản nhà hàng cũng tương đối nhàn nhã vì có nhân viên phục vụ đầy đủ. Hàng ngày, anh chỉ đến mở cửa, trông coi sổ sách rồi ngồi uống trà trò chuyện với bạn bè. Từ một quân nhân, sau nhiều năm tù đầy trong lao tù cộng sản, anh vượt ngục và vượt biển bằng một chiếc thuyền con loại đi sông, với những trang bị thô sơ để đến được bến bờ tự do tới nay cũng đã gần 20 năm trở thành chủ nhân một cơ sở thương mại, một lãnh vực hoàn toàn trái ngược với khả năng chuyên môn của anh. Sau khi sang Mỹ, anh đã ghi danh đi học trở lại ở một Trường Đại học cộng đồng (Community college) ở Thành phố Gió (Windy City) về ngành điện tử. Tốt nghiệp, anh vào làm cho một hãng điện tử hạng trung gần nhà được vài năm, sau đó đã từ chức để về kinh doanh trong ngành nhà hàng ăn. Công việc tuy dài giờ nhưng cũng đủ sống. Anh là một người có lòng với bạn bè, bằng hữu nên dù sống trên phần đất tạm dung, anh vẫn nghĩ đến những người bạn đã một thời chung lưng đấu cật chiến đấu chống cộng gìn giữ quê nhà, nên bằng mọi cách, anh tìm kiếm, liên lạc với những người bạn mới sang theo diện HO. Biết người nào ở bất cứ thành phố nào, tiểu bang nào trên nước Mỹ anh cũng gọi điện thoại thăm hỏi, trò chuyện và nhắc lại những kỷ niệm thời quân ngũ... Những người còn kẹt ở Việt Nam thì anh gửi chút qùa và nhắn với người bạn thụ nhận đi tìm những bạn bè khác, thuộc cấp cũ gặp gỡ nhau nhậu một bữa cho vui vì anh không muốn về Việt Nam dù những hình ảnh quê hương vẫn tràn ngập tâm hồn, nhưng không muốn nhìn thấy bóng dáng những tên Việt cộng nên anh không về; dù hằng đêm vẫn trăn trở với những kỷ niệm thuở thiếu thời; dù những góc phố cũ, hàng quán xưa; những con hẻn lầy lội sau mỗi cơn mưa, những mái nhà tôn nằm chen chúc trong những con hẻm nhỏ hẹp ngoằn nghèo, những gốc cây, những hè phố… vẫn xôn xao trong anh như những hình ảnh khó phai mờ. Anh tìm tòi những vật kỷ niệm của quân đội và cất giữ như những bảo vật trân qúy, từ những miếng huy hiệu các quân binh chủng QLVNCH, hoặc những tấm huy chương, những hình ảnh chiến đấu hào hùng của quân đội... Tất cả những thứ đó đối với anh như thân quen, như gần gũi khiến anh cảm thấy sống lại những những kỷ niệm với bạn bè chiến hữu ngày xưa. Anh thường gọi điện thoại an ủi ông Phát, cấp chỉ huy cũ khi biết ông đã được sang định cư ở Hoa Kỳ sau 14 năm tù đầy trong lao tù cộng sản. Anh cũng gửi sách báo sang cho ông đọc khi thấy ông than thở ở chỗ của ông ít người Việt nên không có gì để xem, mà truyền hình thì không hiểu hết những gì họ nói.
Tiến nhìn ra ngoài cửa sổ, những cành cây khẳng khiu trơ trụi lá đang run rẩy ngả nghiêng trước gió. Thời gian ở cái xứ này dường như trôi nhanh hơn khi ở quê nhà; thắm thoát mà đã đầu tháng giêng, chỉ còn hơn hai mươi ngày nữa đã là Tết nguyên đán . Hôm qua ghé ngang tiệm tạp hoá gần nhà, anh thấy họ bầy bán la liệt bánh mứt, trà rượu, hoa quả khiến lòng anh thêm rộn rã nhớ lại những xuân xưa ở quê nhà. Bây giờ tháng ngày trôi đi khiến anh ngậm ngùi nhìn mái tóc bạc thưa dần để chợt biết rằng mình đã gìa, chợt tiếc nuối thời trai trẻ qua mau. Anh khẽ ngâm mấy câu thơ:

“Người lính trẻ nay trở thành lão trượng
Vẫn ngậm ngùi nhớ lại chiến trường xưa”

Anh dự định mua một chút quà nhỏ để gửi biếu người chỉ huy cũ Trung tá Lê Phú Phát, nhưng cứ phân vân mãi chưa biết nên biếu ông món gì. Anh chợt nhớ đến một vật mà anh nghĩ ông sẽ rất thích ... Tiến về nhà lục trong ngăn tủ lấy tấm huy chương Đệ tứ đẳng Bảo Quốc Huân Chương anh mua lại của một cựu quân nhân Hoa Kỳ giữ làm kỷ niệm cho vào chiếc hộp nhỏ dự định sẽ gửi cho ông Phát qua đường bưu điện. Anh phục vụ dưới quyền Ông Phát từ ngày ông còn là Thiếu tá Tiểu đoàn trưởng. Ông là một sĩ quan gương mẫu, thanh liêm, đứng đắn và dũng cảm. Ông xuất thân từ Khoá 5 Trường Võ Khoa Thủ Đức; suốt đời binh nghiệp lăn lộn ở mọi chiến trường sôi động và đã được ân thưởng đủ loại huy chương; trong đó cao nhất là tấm Đệ tứ đẳng Bảo Quốc Huân Chương. Trong đơn vị, Ông rất thương những thuộc cấp, hết lòng chăm sóc, thăm hỏi và giúp đỡ anh em sĩ quan, binh sĩ dưới quyền. Ông không bao giờ ăn chặn của lính và chẳng nhận quà cáp biếu xén của ai. Ông là tấm gương sáng cho đơn vị mà ai cũng thương mến. Tiến nghĩ ông sẽ rất vui khi nhận được tấm huy chương dù không phải là tấm chính mà ông được chính tay Tổng thống VNCH gắn tại đại lộ Thống Nhất, Sàigòn nhân ngày Quân Lực 19 tháng 6 năm 1973. Tấm huy chương chính đó đã bị mất trong những ngày cuối của Sàigòn tháng 4/1975. Dù sao có được tấm huy chương này cũng sẽ an ủi cho ông rất nhiều trong lúc tuổi xế chiều.
Ngày hôm sau, Tiến mang theo hộp quà lên tiệm dự định sẽ ra nhà bưu điện để gửi cho ông Phát thì gặp Tim Smith, một khách hàng ăn quen thuộc của tiệm anh. Tim cũng là một cựu chiến binh Hoa Kỳ đã từng tham chiến ở Miền Trung trong thời kỳ chiến tranh Việt Nam nên khi biết Tiến cũng là một sĩ quan QLVNCH, Tim rất thích lại trò chuyện. Sau ngày giải ngũ, Tim trở về nước và đã làm việc cho cơ quan điều tra liên bang (FBI) nên thường đi sang các tiểu bang khác công tác. Tiến kể cho Tim nghe về ông Phát nhiều lần, nên hôm nay được anh nói cho biết ý định gửi món quà Xuân biếu ông, Tim hết sức hoan nghênh sáng kiến của anh. Tim cho biết sẽ đi New York vào tuần sau và sẵn sàng mang giao tận tay ông Phát. Tiến đồng ý nhờ Tim mang đến giao tận tay cho ông.

Chiều 23 tháng chạp Âm lịch, ông bà Phát đang chuẩn bị bàn thờ để đưa ông Táo chầu trời như phong tục hằng năm nơi quê nhà. Ông nghĩ dù sống ở xứ người, nhưng vẫn phải giữ đất lề quê thói của người Việt. Ngoài trời tuyết vẫn phủ trắng xoá và từng cơn gió lạnh buốt vẫn xoáy vào chân lông kẽ da khiến lòng người tha hương thêm da diết nhớ nhà. Ông đứng trên chiếc ghế sắt để sắp xếp bàn thờ, còn bà thì đang loay hoay nấu nướng trong bếp. Bỗng có tiếng chuông cửa khiến ông ngạc nhiên không biết ai đến thăm vào giờ này. Ông không có nhiều bạn bè ở Kingwallville vì mới sang chưa được bao lâu; mấy đứa con thì đi làm chưa về... Ông nói vói vào trong bếp:
- Bà ra coi xem ai bấm chuông dùm tôi nghe bà.
Bà Phát lau tay đi ra cửa, ngó trong cái lỗ nhỏ để xem ai trước khi mở cửa thì thấy một người Mỹ nên bà chạy vào bảo ông:
- Người Mỹ ông à! Ông biết nói chút ít tiếng Mỹ thì ra coi họ hỏi cái gì.
Ông Phát phân vân, ông có quen người Mỹ nào ở quanh đây đâu, sao lại có Mỹ đến nhà? Hay là Ông Clark, cố vấn cũ đến thăm? Ông mở cửa bước ra.

Tim mặc bộ quân phục đại lễ, đội nón casket, giầy đánh bóng lộn, hai tay bưng một chiếc gối nhỏ trên đó có một cái hộp gói giấy hoa. Anh tự giới thiệu bằng tiếng Việt khá sõi:
- Tôi là Tim Smith, bạn của ông Tiến ở Queen City. Ông Tiến nhờ tôi mang đến cho ông một món quà Xuân.
Ông Phát cảm ơn rồi mời Tim vào trong nhà. Tim chuyển cái gối sang cho ông Phát xong đứng nghiêm chào kính theo lối nhà binh.
- Congratulations! Colonel.
Ông Phát bỡ ngỡ không biết anh chàng Tiến gửi biếu món gì mà trịnh trọng quá vậy. Ông cũng đưa tay chào Tim theo kiểu nhà binh, rồi mời Tim ngồi xuống ghế sofa; nhưng Tim vẫn đứng nghiêm và yêu cầu ông mở gói quà. Ông rụt rè chưa biết tính sao thì bà Phát đứng gần đó nói:
- Thì ông cứ mở xem chú Tiến gửi cho cái gì.
Ông Phát bóc lớp giấy hoa bọc ngoài cái hộp nhỏ. Hai tay ông run run mở hộp. Mắt ông chợt sáng lên khi nhìn thấy tấm huy chương. Một cảm giác bâng khuâng len vào tâm tư. Những ký ức xưa cũ chợt hiện lên trong trí, hình ảnh những trận chiến oai hùng của đơn vị như nổ bùng trong ông. Từng khuôn mặt bạn bè, chiến hữu, thuộc cấp đã anh dũng ngã xuống vì những viên đạn đồng vô tri của giặc thù để bảo vệ nền tự do dân chủ của Miền Nam trong suốt 20 năm chiến đấu lần lượt trở về trước mặt ông. Mắt ông nhoà lệ...

VŨ UYÊN GIANG
Charlotte, North Carolina
Tháng 12/2002

MƠ ƯỚC MỘT MÙA XUÂN

MƠ ƯỚC MỘT MÙA XUÂN


Thành co ro trong chiếc áo pardessus bằng nỉ, nặng chình chịch như khoác cả tấm chăn bông trên người. Anh mới từ Trại tị nạn Bataan, Phi Luật Tân đến thành phố gió Chicago được tròn 2 tháng thì gặp ngay cơn mưa tuyết và cái lạnh buốt da chào đón.
Hải, người bạn tù và cũng là người bảo trợ của anh cho biết: "Đây mới chỉ là cơn tuyết mỏng đầu mùa, chưa thấm gì so với Tháng 1 và 2 là hai tháng cao điểm, tuyết rơi nhiều, dày cả gang tay và lạnh có khi xuống đến -20 hoặc - 30 độ F". Chưa thấm gì mà Thành cũng đã thấy "rét mướt" đến tận xương tủy. Cơn lạnh đến nhanh quá khiến những chiếc lá vàng chưa kịp lìa cành, vẫn vàng óng trên cây, run rẩy trước từng cơn gió buốt giá từ hồ Michigan thổi về. Thành có cảm tưởng như đang bị hàng ngàn cây kim nhọn xoáy vào từng chân lông, kẽ da khiến thân thể anh tê cóng. Tấm thân còm cõi sau bao năm tháng dài bị đầy ải trong lao tù cộng sản, thêm với tuổi đời chồng chất khiến sức chịu đựng của cơ thể anh bị suy yếu đi nhiều. Thành thầm nghĩ: "Chẳng biết mình có thể chịu đựng nổi cái lạnh của vùng này không? Có lẽ chính vì lạnh mà đa số người Việt đã tập trung về các tiểu bang ấm áp như California hoặc Texas..." Thành chợt nhớ đấn mấy câu thơ trong bài Le Lac của Lamartine anh đọc từ thuở còn đi học:

"Quand la feuille des bois tombe dans la praire
Le vent du soir s' élève et l' arrache aux vallons.
Et moi, je suis semblable à la feuille flétrie
Emportez-moi comme elle, orageux aquillons!"

Tạm dịch:

"...Khi chiếc lá vàng rơi
Gió chiều cuốn cuối trời
Thân ta như cánh lá
Bay hoài phận nổi trôi"
(VUG phỏng dịch)

Chỉ còn vài ngày nữa là đến ngày lễ Thansgiving (Lễ Tạ Ơn) nên ở đâu cũng thấy chuẩn bị rộn rịp cho ngày lễ; nhất là ở các của kính của các chợ bán thực phẩm của Mỹ như Jewel hay Dominick's... la liệt những tấm posters quảng cáo các món hàng hạ giá cho dịp lễ quan trọng trong năm. Thành rẽ vào đường Argyle, khu phố chợ Việt Nam ở Chicago san sát những cơ sở thương mại khang trang, sầm uất;; anh muốn tìm mua một món quà tặng cho vợ chồng Hải, để kỷ niệm gặp lại nhau trên xứ người; nhất là nó lại rơi đúng vào dịp Lễ Tạ Ơn nên càng thêm ý nghĩa. Thành kh6ng bao giờ nghĩ rằng anh sẽ có cơ hội vượt biển vì hoàn cảnh gia đình cùng quẫn và cũng chẳng bao giờ mơ ước có ngày gặp lại Hải, một người bạn tù thân thiết, ở một xứ tự do như xứ Hoa Kỳ này.
Thành còn nhớ những ngày trước khi rời Việt Nam, lúc Hải còn phải trốn tránh sự truy lùng của bọn công an Việt cộng vì tham gia một tổ chức kháng chiến chống cộng trong nước với anh. Hải đã chứng tỏ là một người có bản lãnh; cựu sĩ quan ngành Quân báo có khác, dù phải thay đổi chỗ ở hàng ngày, chỉ di chuyển rời chỗ ẩn náu khi màn đêm buông xuống; phải tránh né sự dòm ngó, săn đuổi, truy lùng của cộng sản; vậy mà anh vẫn sống một cách chững chạc đàng hoàng. Hải vẫn đi đứng hiên ngang tỏ ra không chút khiếp sợ giặc cộng, vẫn toan tính những chuyện đội đá vá trời…
Ngày cuối cùng trước khi xuống Rạch Giá để vượt biển, Hải đã đột nhập vào chỗ ở của Thành, lúc ấy đang nương náu trong một ngôi chùa ở Phú Nhuận, nơi có nhà thơ Bùi Giáng cũng đi về hàng ngày làm nơi tạm trú; Thành và Hải đã ngồi uống rượu đế với nhau, trò chuyện gần suốt đêm… Hôm ấy Thành cảm thấy buồn dày dặc vì nghĩ sẽ phải vĩnh viễn xa một người bạn thân qúi, một người cùng tâm huyết, có cùng những nghĩ suy về thân phận, về đất nước và có cùng chung chí hướng. Xa nhau không biết đến bao giờ mới có dịp gặp lại nhau?
Nhân lúc Hải bị truy lùng phải tìm đường trốn ra nước ngoài, anh đã được giao nhiệm vụ ngay khi đặt chân đến bến bờ tự do ở nước đầu tiên, phải nói cho người Mỹ biết những hoạt động của bọn anh trong nước để cầu mong được Hoa kỳ tài trợ, giúp đỡ… Thời gian ấy những người trong nước vẫn còn tin vào tình nghĩa khắng khít của chính quyền Hoa Thịnh Đốn với người bạn đồng minh chiến đấu. Họ hoàn toàn không nghĩ đến chuyện một cường quốc như Hoa Kỳ lại bội phản đê hèn một đồng minh tiền đồn chống cộng như Miền Nam và họ lại càng không nghĩ đến chuyện một cường quốc như Hoa Kỳ sau khi thảm bại ở Việt, Miên, Lào cuốn cờ tháo chạy lấy thân đã muối mặt lật lọng, dối trá và dối gạt ngay cả nhân dân của họ, hy sinh những người bạn đồng minh chiến đấu can trường, quả cảm trước làn sóng xâm lăng đỏ. Vì vậy họ vẫn tin tưởng là khi trình bày cho Mỹ biết chủ trương, đường lối và sách lược của những người còn ở trong nước, còn đang tiếp tục chiến đấu quyết liệt với cộng sản; họ sẽ được chính quyền Mỹ tiếp tay… Ngay khi đến được Thái Lan, Hải đã tiếp xúc với các viên chức thẩm quyền của Tòa Đại Sứ Hoa Kỳ ở Bangkok và thuyết trình trước những viên chức có thẩm quyền là đại diện chính quyền Hoa Kỳ về tình hình trong nước và hoàn cảnh chiến đấu của những người chiến sĩ tự do trong nước trước những giới chức thuộc các ngành An Ninh, Tình Báo và Quốc Phòng của Mỹ ở Thái Lan; nhưng người Mỹ chỉ muốn quên lãng nỗi đau bại trận nhục nhã nhất trong lịch sử từ ngày lập quốc đến nay ở Đông Dương. Chủ đích chính của họ bây giờ chỉ muốn mướn các tổ chức đấu tranh của người Việt làm công tác tìm kiếm tù binh Mỹ hoặc các người Mỹ còn được ghi nhận là mất tích trong khi thi hành công vụ ở Việt Nam, chứ không thiết tha đến việc giúp người dân Miền Nam quang phục lại đất nước. Chính quyền Mỹ đã phản bội những đồng minh của họ ở Đông Dương, hèn hạ đâm lén sau hàng triệu chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa quả cảm và bất nhân bất nghĩa khi đẩy nhiều chục triệu người dân lành vô tội xuống đáy sâu địa ngục đỏ phi nhân và vô lương tâm khi làm ngơ trước nỗi thống khổ của bao nhiêu triệu người dân Việt sau ngày đại tang 30/4/1975 khi để cộng sản cưỡng chiếm Miền Nam, đặt ách thống trị đất nước bằng bạo lực và nhà tù. Như vậy thì làm sao trông mong có sự trợ giúp của họ để quang phục quê hương? Hải chỉ tìm thấy câu trả lời khi đã ngồi trong Tòa Đại Sứ Mỹ ở Bangkok. Anh đã có dịp nhìn rõ bộ mặt tráo trở, đê tiện, bỉ ổi của người Mỹ nên phát tởm và khinh khi tính ích kỷ, cá nhân chủ nghĩa của Mỹ… Sau sự thảm bại ở Việt Nam, cái bóng ma chiến tranh và sự hy sinh khốc liệt một cách vô ích của hơn 58 ngàn tử sĩ luôn ám ảnh trong tâm tưởng người Mỹ và các chính khách Mỹ, làm họ khiếp sợ thì làm sao họ có đủ hùng tâm, dũng khí để giúp cho dân tộc anh vùng lên giải phóng đất nước thoát vòng kìm kẹp của giặc đỏ? Đó là lý do tại sao người Mỹ khi tiếp xúc với các tổ chức người Việt từ khắp nơi trở về Thái Lan để mưu đồ chuyện phục quốc như các ông Võ Đại Tôn, Lê Quốc Túy, Thái Quang Trung, Hoáng Cơ Minh…, họ chỉ tính chuyện lợi dụng những nhân vật này làm công tác tay sai cho Mỹ; một thứ được thuê mướn theo hợp đồng để làm công tác tìm kiếm tù binh Mỹ mất tích trân chiến trường Đông Dương; một vấn đề nhức nhối khiến chính quyền Mỹ ăn ngủ không yên với dân chúng họ.
Nhân dịp này người Mỹ cũng đã offer cho anh một cái Job béo bở là làm sĩ quan An Ninh cho cơ quan DAO, chuyên thanh lọc người tị nạn ở các Trại Tị Nạn trên đất Thái, phỏng vấn an ninh các người quá cảnh Thái Lan từ Việt Nam qua các chương trình ODP, Con Lai và các Tù Binh, Hàng Binh VC bắt được ở biên giới Thái – Miên. Thời gian này Hải đã có cơ hội phỏng vấn hầu hết những người Việt trên đất Thái qua các chương trình ODP, Con Lai hoặc vượt biên, vượt biển. Trong số những người anh đã phỏng vấn, thanh lọc có cô em gái ca sĩ Elvis Phương mà sau này đã trở thành ca sĩ Kiều Nga, có nhạc sĩ Lê Trọng Nguyễn tác giả nhạc phẩm nổi tiếng Nắng Chiều. Anh Lê Trọng Nguyễn đã khóc khi Hải cho anh nghe băng nhạc Tủi Nhục Ca của Hà Thúc Sinh do Khánh Ly hát… và cũng trong thời gian làm việc ở Thái Lan, Hải đã cứu được 1 cựu phi công của Không lực VNCH tên Lê Văn Tống, tự Lý Tống ở nhà giam Arranya Prathet, Thái Lan.

Cơ may cũng đến với Thành vài năm sau, khi tổ chức kháng chiến mà anh tham gia bị cộng sản phá vỡ; hầu hết các cấp lãnh đạo của tổ chức kháng chiến bí mật bị bắt và bị tuyên án từ 20 năm đến tử hình; một mình Thành thoát nạn và ẩn náu ở Saigon; nhưng sau đó anh lại bị chính một tên bạn đốn mạt Phan Lạc Luộc chỉ dẫn cho công an VC chỗ ẩn trốn… May mà anh mới rời chỗ ẩn náu vài giờ trước khi công an VC ập vào bắt bớ. Sau một thời gian dài trốn tránh, anh được một người bạn thương tình giúp đỡ cho đi vượt biên bằng đường biển và đã đến được Phi Luật Tân. Thành không có địa chỉ của Hải ở Hoa Kỳ nên không sao liên lạc được với Hải. Tình cờ một hôm anh đọc thấy trên một mẩu nhắn tin ngắn tìm anh trong tờ báo Việt ngữ gửi từ Mỹ sang Trại tị nạn cho đồng bào đọc. Làm sao nói hết nỗi vui mừng của Thành lúc ấy; những hàng chữ như nhảy múa trước mắt anh. Anh còn nhớ như in trong đầu vài hàng chữ ngắn ngủi nhắn tin của Hải như sau:
“Nhắn Tin: Cần tìm bạn tên là Lê Văn Thành, sanh năm 1941 ở Bắc Việt, cựu Đại Úy, Đại đội trưởng của Sư đoàn 3 Bộ binh (trước 30/4/1975); đã cải tạo ở Trại K.1 Suối Máu Biên Hòa năm 1978. Nghe nói đã vượt biên đến bến bờ tự do nhưng không biết ở Trại tị nạn nào. Nếu qúy vị biết tin tức của bạn tôi, xin liên lạc về: Vũ Quang Hải, Tòa soạn báo Thời Việt, P.O.Box 0000, Chicago, IL 60640 – USA. Xin thành thật cảm ơn qúy vị”
Hải quả là một người quá tỉ mỉ và cẩn thận, anh ghi rõ những chi tiết như vậy thì làm sao mà lầm lẫn được? Hình ảnh người bạn hào sảng ngày nào lại hiện lên rõ nét trong tâm trí anh. Thành ghi vội mội lá thư cho Hải biết tình trạng của anh ở Trại tị nạn. Chỉ 2 tuần lễ sau, Thành đã nhận được thư của Hải cùng giấy tờ bảo lãnh Thành về định cư ở Chicago. Hải cũng không quên gửi cho Thành một Morney Order để anh có tiền chi tiêu trong Trại. Thành thật cảm động trước tấm lòng của Hải; đành rằng một vài trăm bạc đối với người ở Mỹ chẳng đáng bao nhiêu, nhưng nó là cả cái chân tình đối với nhau… Và bây giờ thì anh đã là một người tị nạn như hàng trăm ngàn người tị nạn Việt Nam khác trên đất Hoa Kỳ này.

Chiều thứ sáu nên khu phố chợ Argyle của người Việt đông đảo, tấp nập vì ai cũng đi chợ mua sắm cho cuối tuần. Người nào cũng vội vã, có lẽ vì đời sống xứ này không gian quá rộng khiến con người phải hối hả chạy đua với cây kim đồng hồ hàng ngày, hàng giờ; nên con người tự đặt mình thành cơ phận một cỗ máy, cứ chạy đều, quay đều một cách đơn điệu. Ôi! Đâu còn cái cảnh nhàn nhã thảnh thơi như ở quê nhà ngày xưa.
Thành loay hoay mở khóa cửa; giờ này chắc vợ chồng Hải cũng đã đi làm về. Hải là một người năng động và nặng lòng với đất nước. Dù bận rộn với công việc là Technician ở một Hãng Điện Tử, anh vẫn không quên bổn phận phải chống cộng, nên đã chủ trương tờ báo Thời Việt làm cơ quan đấu tranh trên mặt trận văn hóa. Thành còn nhớ mấy câu thơ mang nặng tâm sự của một người tị nạn khiến nhiều người đọc mủi lòng:

“Ta mang hoài bão trên vai
Nặng thân tị nạn, tủi đời lưu vong
Thù xưa ấn dấu trong lòng
Nhục tràn sông bể, cuốn giòng thời gian
Nửa khuya thức giấc bàng hoàng
Niềm đau bại trận hàng hàng lệ rơi“
(Hoài Bão – thơ VUG)

Tiếng hát Nguyệt Ánh từ chiếc máy cassette trong một căn appartment nào đó của chung cư này vọng ra, chạy dọc theo hành lang hun hút vàng vọt ánh điện của cao ốc nghe rõ mồn một: “Anh vẫn mơ một ngày về. Quê dấu yêu không còn cộng thù...“ Niềm mơ ước nhỏ nhoi như vậy đến bao giờ mới có được? Đến khi nào những người lưu dân được trở về quê cha đất tổ sống trong cảnh thanh bình, tự do bên mảnh ruộng thửa vườn; không còn bóng dáng chiếc cờ đỏ tanh hôi vì nhuộm đẫm máu người? Nghĩ đến ngày ấy ai mà không mừng vui? Toàn dân triệu người như một cùng chung sức, chung lòng xây dựng một nước Việt Nam tự do, dân chủ và nhân quyền trở thành một xứ phồn thịnh và tiến triển ở Châu Á. Lúc đó, người Việt ở khắp mọi nơi trên trái đất, những chuyên viên trẻ với tri thức, kiến thức học hỏi được từ các quốc gia tiên tiến nhất trên thế giới sẽ cùng nhau đem hiểu biết chuyên môn của mình để xây dựng đất nước thì Việt Nam sẽ trở thành một quốc gia tiến triển vượt bực về mọi ngành, mọi mặt... Đó không chỉ là mơ ước của người Việt hải ngoại, mà còn là niềm kỳ vọng của hơn 80 triệu người đang khổ đau sống dưới sự cai trị bạo tàn của cộng sản trong nước.

Hải ngồi dựa ngửa trong chiếc ghế bành rộng, chân gác trên mặt bàn thấp ngổn ngang những báo và các tạp chí từ khắp mọi tiểu bang gửi đến cho anh; tay cầm lon bia, mắt đang chăm chú theo dõi các cầu thủ football trên màn ảnh máy truyền hình. Anh cũng có thói quen như các người Việt định cư lâu năm ở Mỹ, đã nhận nơi này làm quê hương thứ hai, nên hội nhập vào đời sống và học những thói quen như người bản xứ. Họ cũng có thói quen “ghiền“ môn thể thao mà Thành cho là kỳ quái này như những người Mỹ chính gốc. Thành cứ luẩn quẩn hoài trong đầu về hình ảnh các cầu thủ ăn mặc kệch cỡm như phi hành gia bay lên không gian, dưới mắt lại kẻ 2 vệt đen kịt như hề, xông húc vào nhau, nằm đổ chồng lên nhau để giành giựt trái banh cà na. Anh thắc mắc hoài không hiểu sao họ lại gọi đó là football? Vì thật ra họ dùng chân để đá banh rất ít mà chủ yếu là ôm banh chạy; theo sự suy nghĩ đơn giản của Thành, football phải là môn túc cầu đá bằng đôi chân mà suốt thời thơ ấu anh đã lăn lộn với trái bóng trên những cánh đồng nhấp nhô những gốc rạ khô khốc, vàng úa ở quê nhà. Bên Mỹ họ lại gọi môn túc cầu là soccer và không được người Mỹ ưa chuộng cho lắm. „Không biết đến khi nào mình mới mê được cái môn bóng giành giựt, vật lộn, núi kéo kỳ cục này? Lúc đó không khéo mình lại thành Mỹ mất.“ Thành chợt cười vu vơ với cái ý nghĩ khôi hài này. Anh lên tiếng hỏi Hải:
- Ông bà về lâu chưa?
Hải ngừng xem, ngước nhìn Thành:
-Tụi tôi mới về được chừng 20 phút thôi. Ủa! Ông đi đâu về vậy? Hôm nay có đi học không?
- Có. Già rồi học không vô. Chữ với nghĩa, mình cứ phải uốn éo cái lưỡi giống thằng ngọng tập nói; nghĩ mà mệt quá. Thành đáp.
Hải nói giọng an ủi:
- Ai cũng vậy thôi. Tụi tôi hồi mới qua cũng thế, mệt ghê lắm, vừa đi học, vừa đi làm cực lắm. Nghe người Mỹ nói cứ như vịt nghe sấm cả một lũ, ù ù cạc cạc chẳng hiểu gì. Vậy mà chỉ vài năm thì đâu cũng vào đấy tất. Ông đừng bi quan buông xuôi. Nhớ lúc ở trong tù, mình có bao giờ nghĩ rằng sẽ có ngày ngồi ở cái xứ này đâu! Vậy mà mau quá hả ông? Vừ nói Hải vừa khui 1 lon bia đưa cho Thành.
- Ừ! Thật không ngờ có ngày sang bên này. Tôi cứ tưởng trong mơ.

Thành còn nhớ mãi những hình ảnh khi còn bị lưu đầy trong đáy sâu địa ngục đỏ của lao tù cộng sản, khi anh và Hải cùng chia sẻ với nhau những khổ ải, gian truân, ngọt bùi cay đắng của kiếp bại binh trong tay giặc. Có sống với nhau những tháng ngày gian khổ mới cảm nhận được cái tình lính nó sâu đậm đến là dường nào trên cõi đời này. Có sống trong quân ngũ người ta mới biết tại sao người lính có thể chia ngọt sẻ bùi với nhau, san sẻ cho nhau từng niềm vui cũng như nỗi đau, chia nhau từng giọt nước hiếm qúy, từng điếu thuốc hiếm hoi, từng muỗng đường, từng ngụm cà phê. Người ta mới biết tại sao trong chiến trận người lính sẵn sàng chết cho bạn mình được sống mà không hề ân hận, hối tiếc… Mấy anh chàng nhạc sĩ của Ban AVT đã rất chí lý khi viết lời cho bản nhạc hài hước “Huynh Đệ Chi Binh” mà ngày xưa Thành thường nghe trên làn sóng điện của Đài Phát Thanh Quân Đội khi đồn trú ở những tiền đồn heo hút, lúc đó anh cứ nghĩ bản nhạc chỉ thuần túy hài hước cho vui; nhưng sau nhiều năm dài trong lao tù, khi nghe lại các bạn tù hát, anh mới cảm nhận được cái hay thâm thúy của bản nhạc. Anh thấy chí lý vô cùng!

“Huynh đệ chi binh là gì đó anh Hai?
Huynh đệ chi binh là tình cùng chung đời lính… thương nhau khác chi nhân tình…”

Mà có lẽ đúng như thế. Thương nhau còn hơn cả nhân tình nữa là khác. Thành thấy mấy anh nhà văn, nhà báo đã ví von một cách quá đáng khi cho rằng “bạn nhà binh cũng như tình nhà thổ” để ví von so sánh giữa tình bạn của lính chẳng khác gì cái tình thoáng qua của mấy cô bán phấn buôn hương. Chỉ ngắn ngủi trong thoáng chốc mong manh…
Thành còn nhớ những ngày dài hành quân gian truân, cực khổ, đơn vị bị địch vây hãm, thiếu tiếp tế; thiếu lương thực, thuốc men; từ lính đến quan phải chia sớt cho nhau từng giọt nước đục ngàu, từng bụm gạo sấy, từng hơi thuốc lá và đã lo lắng cho nhau từng chút nhỏ hy vọng mong manh, an ủi nhau từng nỗi khổ cực và vẫn cười cợt một cách vô tư. Khi lỡ bước sa cơ nằm trong tù ngục cộng sản; trong lúc thập tử nhất sinh, khi thần chết đã cận kề, đã đưa lưỡi hái tử thần để định kéo chàng về thế giới bên kia thì chính những người bạn tù cùng khổ đã gom góp những viên thuốc Tây hiếm qúy của các bạn tù trong Trại giam để cứu lấy sinh mạng của anh. Họ đã chẳng nề hà cực khổ, thiếu thốn, vì biết đâu khi họ bị bệnh hoạn sẽ không còn thuốc cứu chữa… Nhưng dù sao mặc lòng, họ vẫn dốc hết ra để mong cứu được bạn mình và họ thật vui mừng khi thấy bạn đã thoát cơn nguy hiểm.. Có những anh bạn không nề nguy hiểm đã chui rào sang các trại lân cận để lùng kiếm thuốc về cứu Thành; hành động phiêu lưu mạo hiểm này dễ chết như chơi vì nếu bọn vệ binh gác tù bắt gặp thì sẽ chẳng còn mạng sống để về với vợ con, gia đình. Lúc đó họ chỉ còn nghĩ đến cứu sinh mạng của bạn là trên hết. Nghĩ đến đây khiến Thành nghĩ đến những người bạn cùng tù với anh vô cùng. Ôi! Làm sao tôi có thể quên được những người bạn đã chia sẻ với tôi từng phân chiếu hẹp, từng củ khoai hà, từng cọng rau lang rau muống, rau cải trời, từng hột muối??? Làm sao tôi có thể quên được những tháng ngày dài khổ ải trong các trại biến hình của cộng sản? Bọn Việt cộng phi nhân muốn chúng tôi hóa thú cả lũ, muốn chúng tôi giết hại lẫn nhau, đạp lên nhau mà sống, hãm hại lẫn nhau bằng những mớ lý luận giáo điều xuẩn ngốc, ngu muội; nhưng chúng đã hoàn toàn thất bại vì làm sao có thể cải tạo chúng tôi bằng mớ chữ nghĩa ngu ngơ và mớ lý luận dốt nát đó? Trừ phi chúng bửa đầu chúng tôi ra, nạo hết óc vất đi họa may mới thay đổi được suy nghĩ của chúng tôi về cộng sản. Nghĩ đến bạn bè, Thành chợt ngầy ngật trong một cảm giác buồn bực, xốn xang. Anh cứ nghĩ hoài, trăn trở hoài mà không nghĩ ra phương cách nào để cứu những bạn bè còn đang gian truân trong lao tù cộng sản từ Nam ra Bắc, từ những hải đảo xa xôi cho đến tận rừng sâu núi thẳm ở Hoàng Liên Sơn, Việt Bắc, Lai Châu, Sơn La, Vĩnh Phú… , từ Chí Hòa đến Hàm Tân, Bù Gia Mập, Năm Căn… và ở khắp mọi nơi trên toàn cõi Việt Nam. Nhà tù giăng mắc khắp nơi, nhiều hơn trường học; chúng dùng cả những chùa chiền, nhà thờ, rạp hát làm chỗ giam giữ tù nhân như rạp Đại Lợi ở Ngã Ba Ông Tạ; đều được VC chiếm cứ làm thành nơi giam cầm kiên cố để nhốt Quân Dân Cán Chính Miền Nam. Đối với bọn người vô thần cộng sản thì Phật, Chúa, Thánh Thần chỉ là sảm phẩm phản động của chủ nghĩa Tư Bản và Phong Kiến cần phải “đánh tận gốc, trốc tận rễ”; những nơi có thể tập hợp được quần chúng nghe theo đều bị chúng tiêu diệt vì sợ sẽ trở thành đối lực của chúng. Chúng bắt buộc mọi người chỉ được nghe theo đảng, tin theo đảng và làm theo những gì đảng yêu cầu. Muốn được như vậy, cộng sản phải bần cùng hóa nhân dân, ngu dân và tạo thành một nếp thông tin một chiều để quần chúng không còn nhìn thấy những tội lỗi tầy đình của đảng. Vì vậy chúng không cần đến những tôn giáo và những nơi thờ phượng thiêng liêng.
Thành lặng người trong giòng suy nghĩ. Anh cứ tưởng chừng như mình còn đang sống trong môi trường khổ ải ở trong nước. Tiếng Hải chợt vang lên khiến anh giật mình:
- Ông nghĩ gì mà thừ người ra vậy? Bộ nhớ đến bà đầm hả?
Thành cười xòa:
- Đâu có! Tôi đang nghĩ đến những ngày mình bị giam cầm chung với nhau ở Phú Quốc, Long Giao, Suối Máu… Nghĩ mà kinh hoàng thật. Chẳng hiểu sao mình lại sống được trong điều kiện nghiệt ngã như vậy? Cứ như là một phép lạ nhiệm màu ông thấy không? Lúc đó sao tinh thần bọn mình vững thế nhỉ?
- Thì phải vậy chứ sao? Chính nhà tù lại là nơi đào tạo con người có một lập trường vững, lý tưởng chống cộng triệt để. Trước 30/4/1975, bọn mình đi vào quân đội chỉ là nhiệm vụ của thanh niên trong thời chiến và mọi người có mấy ai hiểu rõ cộng sản đâu; bọn mình chiến đấu vì phải chiến đấu giữ nhà, giữ đất thế thôi! Nhưng nhờ lao tù, sau khi bị giam cầm, mình biết rõ cộng sản vì thế mình và cộng sản là 2 chiến tuyến rõ rệt, hai ý thức hệ rõ rệt không thể nào đi chung với nhau, thỏa hiệp với nhau được. Ở trong tù, anh em được trang bị một lập trường chống cộng vững vàng hơn và nhìn rõ bản chất lưu manh, xảo quyệt và đê hèn của cộng sản hơn thì làm sao có thể tin tưởng chúng được?
Bất chợt Hải hỏi:
- Mấy bữa nay ông có theo dõi trên truyền hình và báo chí về những diễn biến đang xảy ra ở ngay cái nôi của cộng sản là Liên sô và Đông Âu không?
Thành cười: Tôi đâu nghe kịp họ nói gì. Chỉ đoán loáng thoáng thôi.
- Từ từ rồi ông nghe sẽ quen. Mấy ngày nay trên các hệ thống truyền hình và truyền thanh toàn thế giới đang sôi nổi tường thuật về sự đổ sụp của các nước cộng sản mà đứng đầu là Liên Sô và các nước Đông Âu. Các nước Ba Lan, Tiệp Khắc, Hung Gia Lợi, Bảo Gia Lợi, Lỗ Ma Ni cùng lúc theo nhau sụp đổ, đến bức tường ô nhục chia đôi Đông – Tây Bá Linh đã được phá bỏ. Lần đầu tiên sau nhiều chục năm Đông và Tây Đức đã thông thương và thống nhất. Nhân dân các nước này đã nhìn thấy chế độ cộng sản chỉ đưa họ xuống đến đáy sây địa ngục với bao khổ đau chồng chất nên cương quyết dứt bỏ nó, vùng dậy đòi tự do, dân chủ và nhân quyền.
- Thì tôi coi TV cũng đoán lờ mờ như vậy. Thành nói.
Hải giảng giải một cách tỉ mỉ cho Thành nghe các diễn tiến của biến động Đông Âu kéo theo sự phá sản của toàn bộ hệ thống cộng sản. Anh sôi nổi kể cho Thành nghe cuộc đấu tranh dũng cảm và can trường của nhân dân các nước cộng sản anh em đời đời bền vững của cộng sản Việt Nam. Cái chết của vợ chồng tên độc tài khát máu Ceaucescu; bức tường ô nhục chia đôi Đông Tây Bá Linh sau nhiều chục năm dài đã bị phá vỡ như thế nào v.v… Chỉ trong vòng có mấy tháng, cả một hệ thống cộng sản bị đổ sụp một cách nhanh chóng, ngoài dự tưởng của nhiều người. Ngoài sự tiên liệu của cả cộng sản. Chưa bao giờ khối cộng sản lại bị hoang mang giao động như ngày nay. Hình ảnh pho tượng khổng lồ ông tổ Lenine của cộng đảng Nga ở Mạc Tư Khoa bị treo cổ bằng giây cáp thép để bứng khỏi bệ vất nằm lăn lóc và được hầu hết báo chí trên thế giới đăng tải ngay nơi trang nhất và tất cả các hệ thống truyền hình trên thế giới cũng đã truyền tải hình ảnh sống động này đi khắp nơi cũng đủ chôn vùi chủ nghĩa cộng sản sau nhiều chục năm làm mưa làm gió, tàn ác vô nhân, sát hại vô số người ở khắp nơi trên thế giới. Riêng ở Liên Bang Sô Viết, nơi được coi là thành trì của cộng sản, là cái nôi ưu việt của xã hội chủ nghĩa cũng đã bị giải tán đảng cộng sản, Liên Bang Xô Viết cũng bị giải tán và các tiểu quốc bị sáp nhập thành Liên Bang nay cũng tuyên bố độc lập.
Thành chăm chú lắng tai nghe Hải tóm lược các tin tức mới nhất về sự đổ sụp của hệ thống cộng sản. Điều này ngay khi còn ở trong tù, anh em đã nhiều lần bàn thảo với nhau về sự thoái trào của chủ nghĩa cộng sản sau hơn 60 năm (thời điểm năm 1977 – 1978 khi anh em còn đang trong trại giam) phát triển bằng bạo lực; nhưng lúc đó bọn anh chưa tiên đoán được chính xác thời gian cộng sản sẽ đổ sụp và sụp đổ như thế nào. Thực ra điều này không phải là khó đoán vì căn cứ vào sự biến thiên của lịch sử nhân loại và sự phát triển của nền kinh tế tập trung của cộng sản chỉ làm nền kinh tế càng ngày càng trì trệ, cộng thêm chủ trương “hồng hơn chuyên”, họ chỉ chú trọng vào lòng trung thành với đảng hơn là trình độ chuyên môn khoa học kỹ thuật; nói trắng ra là với chính sách ngu dân để dễ bề cai trị của đảng tạo nên một xã hội với trình độ dân trí thấp kém, dốt nát; từ đó đưa đến tình trạng những người mù lái chiếc xe kinh tế xã hội chủ nghĩa một cách không định hướng, không chủ trương và không kế hoạch; tất nhiên hậu quả là đưa đất nước xuống đáy sâu vực thẳm của nghèo nàn, lạc hậu và chậm tiến. Càng ngày cộng sản càng dẫn dắt đất nước đi sâu vào ngõ cụt, vào con đường bế tắc không sao cứu gỡ thì sao tránh khỏi sụp đổ? Bây giờ những suy nghĩ ấy của anh em cách nay hơn nhiều chục năm đã trở thành sự thật. Các nước cộng sản đã thật sự phá sản. Các đảng cộng sản Đông Âu và Liên sô đã bị giải tán. Nhiều nước đã có những cuộc bầu cử tự do dân chủ và người dân đã được quyền chọn lực thể chế chính trị cũng như người lãnh đạo đất nước của họ không phải đảng viên cộng sản như trước kia. Đây là một biến cố lớn lao có tác dụng thay đổi bộ mặt thế giới.

Thành sung sướng nghĩ đến ngày được đặt chân trở lại quê nhà khi đấ nước thoát ách cộng sản để sống một cuộc đời bình dị của một người dân một nước tự do, dân chủ và nhân quyền. Cái bóng ma cộng sản không còn là nỗi ám ảnh, khiếp sợ của người dân. Từ Bắc chí Nam sẽ rộn rã tiếng hò câu hát. Từ nông thôn cho đến thành thị sẽ vang vang tiếng nói cười. Trên khuôn mặt trẻ thơ sẽ rạng rỡ và không càn vẻ xanh xao, vêu vao vì thiếu ăn, thiếu dinh dưỡng. Nguồn nhân lực dồi dào của hơn hai triệu người Việt hải ngoại sẽ đổ dồn về để cùng nhau xây dựng lại đất nước từ đống tro tàn. Giới trẻ ở hải ngoại với trí tuệ và tri thức học hỏi được từ những nước văn minh tiến bộ nhất thế giới sẽ góp phần xây dựng đất nước. Việt Nam sẽ trở thành một quốc gia tiến triển và phú cường vào bậc nhất Châu Á. Với những kinh nghiệm đau thương trong lịch sử mà lớp tuổi cha anh đã góp phần xương máu, giới trẻ sẽ rút ra được những bài học qúy giá của sự đoàn kết để cùng tái thiết và xây dựng đất nước từ hoang tàn đổ nát và từ đó họ sẽ có những hướng đi mới để giữ nước.
Ngày ấy những người ở lớp tuổi của Thành, của Hải v.v… sẽ lui về sống đời an nhàn để hưởng những giây phút trân qúy của chuỗi ngày còn lại trên quê hương yêu dấu thực sự tự do, dân chủ và no ấm. Anh nhớ mang máng có một người nào đó đã viết rằng: “Không có ở đâu bằng chính quê hương của mình…”; điều đó Thành thấy đúng vô cùng. Đối với anh thà được sống trên mảnh đất, thửa vườn của ông cha để được tận hưởng mùi thơm của lúa trổ đòng đòng, để tìm thấy hương vị của quê hương không ở đâu xa mà chính là mùi đất, mùi bùn trong những mảnh ruộng, ao sen, mương rạch, cây trái đồng quê; trong tiếng hát câu hò trên giòng sông Tiền, sông Hậu, Sông Đồng Nai… Tất cả những thứ ấy như một hấp lực ma mãnh khiến con người ta bị cuốn hút vào cơn mê say, thèm thuồng, ao ước; và chỉ khi nào được thực sự sống trong cái niềm vui ấy, trong cái xã hội bình dị ấy, nơi người ta đã sinh ra và lớn lên bằng những kỷ niệm của một thời, một tuổi; người ta mới cảm thấy yên ổn trong tâm hồn.
Ôi! Mùa Xuân bao giờ trở lại quê tôi???

VŨ UYÊN GIANG
Chicago, Tháng 1 năm 1991

THƯƠNG TIẾC

THƯƠNG TIẾC



Lời nói đầu: Đây là một câu chuyện có thật xảy ra trong Trại Tù Cải Tạo năm 1978. Tên các nhân vật và địa danh và những đối thoại được tác giả ghi lại trong thực theo ký ức của chính mình. - V U G


1.

Vũ nằm trên tấm ván gỗ ọp ẹp đã ngả sang màu nâu đậm, nhẵn bóng vì thấm mồ hôi từ lâu ngày. Manh chiếu rách tả tơi rớt ra những cọng cói nhỏ mềm nhũn. Cái nóng gay gắt của trưa hè khiến người chàng ngày ngật trong một cảm giác mệt mỏi, khó chịu; hơn nữa Khối của chàng lại là một căn nhà "tô nên (1), mái tôn, vách tôn nên càng nóng khủng khiếp. Giữa trưa nắng hè nằm trong nhà cũng giống như cho vào lò nướng bánh mì. Chàng đưa mắt nhìn mọi người đang chập chờn trong giấc ngủ trưa ngắn ngủi, từ anh chàng Khối phó Phan Bình Định (2) nằm ở đầu nhà đến ông già Vũ Quang Phục (3) nằm ở cuối phòng. người nào cũng trần trùng trục và nhễ nhại mồ hôi. Từ lâu nay Khối 21 vẫn được tên Hai Đề, cai tù phụ trách Đội 4/ Trại 2/L.19 Đoàn 500 Hốc Môn, coi là Khối "phản động và chây lười lao động" nhất Trại vì quy tụ toàn những tay tù sừng sỏ từ Long Giao về. Thành tích này khiến Khối trưởng Nguyễn Văn Long (4) lúc nào cũng nhăn nhó vì bị Hai Đề "dũa thảm thiết" khi "giao ban" (5) mỗi ngày.
Vũ chợt cười vu vơ khi lần thẩn nghĩ rằng mình và đám bạn bè kia biến thành những thây ma nằm xếp hai hàng trong một căn nhà mồ lớn; mỗi người được làm chủ một giang sơn chiều ngang vừa đúng 3 gang tay với trăm cay ngàn đắng. Trong giấc ngủ chập chờn dường như người nào cũng lộ vẻ ưu tư. . . ưu tư vì kiếp tù đầy chung thân không án tích mà ngày về thì mù xa thăm thẳm; ưu tư vì từng hột cơm, từng củ khoai sùng, từng cọng rau muống, rau lang; ưu tư vì từng phân chiếu hẹp. Con người trước những gian truân, khổ ải bỗng trở thành nhỏ mọn, ti tiều; suốt ngày chỉ nghĩ đến những thủ thuật làm sao để đánh lừa cái bao tử của chính mình bằng những khẩu phần ăn bo bo hoặc ngô khoai ít ỏi. Cái nhìn của con người không ra khỏi miếng ăn. Cái gì cũng nhìn ra thực phẩm nuôi sống con người. Đôi khi đánh nhau cũng chỉ vì củ sắn, củ khoai... Cuộc đời tù đầy khiến nhiều người trở thành hèn mọn. Cái đói khiến nhiều người bộc lộ tất cả những ti tiện, nhỏ mọn và những thói xấu mà khi xưa người ta khéo léo che giấu dưới áo mão xênh xang. Những anh càng cao danh vọng, càng nhiều bằng cấp, học vị cùng minh; hưởng càng nhiều bổng lộc, ân sủng của quốc gia lại hèn mọn nhiều nhất. Chỉ ở trong hoàn cảnh khốn cùng của những trại tù họ mới bộc lộ, phơi bầy rõ con người thật của họ.
Tiếng kẻng báo động chợt vang lên inh ỏi khắp nơi. Tiếng hò hét quát tháo hoà lẫn tiếng lên đạn súng AK lách cách của những tên vệ binh gác tù và tiếng chân chạy rầm rập trên đường từ cổng vào, giữa hai Đội 3 và 4 khiến tình hình có vẻ nghiêm trọng hơn. Vũ ngồi nhổm dậy nhớn nhác nhìn ra ngoài, anh nghĩ thầm: "Chắc lại có anh em nào trốn trại nên bọn cai tù mới hoảng hốt như vậy".
Khối trưởng Nguyễn văn Long đeo vội cặp kính cận, lồm cồm ngồi dậy, gọi anh em trong Khối:
- Mặc quần áo ra tập họp lẹ đi anh em!
Mọi người thuộc Khối 21 bị đánh thức dậy, nhiều anh em lầu bầu chửi thề nhưng rồi cũng lục tục kéo nhau ra con đường trước sân tập họp. Cả Khối trưởng Long lẫn Khối phó Phan Bình Định cùng chạy lăng xăng kiểm người. Khi thấy đủ 50 người trong Khối, cả hai đều tỏ vẻ mừng rỡ vì ít nhất không thiếu người thì Khối trưởng và Khối phó không sợ bị trách nhiệm vì "quản người không chặt" (6).
Tên cai tù Hai Đề đứng dưới bóng mát của cây điệp lớn phía Khối 17 chờ các Khối trưởng lên báo cáo tình trạng nhân số của từng Khối. Hắn có vẻ mặt gian xảo, nham hiềm. Hai gò má hắn hóp sâu vào khiến lưỡng quyền vốn đã nhô cao lại càng cao hơn. Hàng răng vẩu và hai hố mắt sâu hoắm khiến nhìn như một cái đầu lâu khô khốc gắn trên bộ xương khẳng khiu. Khi các Khối trưởng đã báo cáo nhân số xong, hắn giơ tay chỉ trỏ về phía sân bóng chuyền rồi nói điều gì đó với các Khối trưởng; rồi y quay lưng bỏ đi về phía mấy tên vệ binh. Các Khối trưởng 17, 18, 19, 20 và 21 tất tả trở về Khối mình... Mọi diễn biến đều được anh em theo dõi một cách chăm chú. Ai cũng xầm xì bàn tán về biến cố mới xảy ra. Ai cũng đoán rằng "chắc có người vượt trại nên bọn cai tù mới hốt hoảng điểm danh đột xuất toàn trại giữa trưa nắng gắt như vậy.
Mọi người đều có chung một thắc mắc không biết người trốn trại là ai, thuộc khối nào, Đội nào...dù không biết là ai, quen hay không, hầu như trong thâm tâm mọi người đều thầm mong bạn mình đi thoát. Ở tù chung với nhau nhiều năm, dù trong cuộc sống hàng ngày có những khi bị va chạm, bất đồng, cãi vã...nhưng khi nghe tin có người vượt ngục, ai cũng cầu mong cho họ đi thoát vì nếu để bọn cộng sản bắt được thì sự hành hạ, đánh đập sẽ tàn nhẫn, dã man không sao kể xiết. Tiếng bàn tán xôn xao; người nào cũng tỏ vẻ thông thạo địa hình, địa vật của khu trại giam... Thì ra người tù nào trong tận cùng sâu thẳm của trí óc cũng có lúc nghĩ đến việc vượt thoát lao tù cộng sản, nên để ý từng chút một nơi giam giữ mình để chờ cơ hội. Từ sau lần vượt ngục thành công một cách dễ dàng ngoài dự tưởng của anh chàng Liên, Trung úy Dù thuộc Khối 20 do tên "ăng ten nặng ký" Phan Cao Quang làm Khối trưởng. Liên đi ngờ ngờ trước mất anh em, giữa ban ngày trong khi đang lao động ở hiện trường trên Bệnh xá. Khi đó toán lao động của Khối 20 vừa đến làm cỏ cho Bệnh xá, tên Vệ binh canh tù cũng vừa ôm súng nấp vào bóng mát hiên nhà để tránh cái nóng như thiêu đốt của trưa hè. Y lơ đãng nhìn trời, nhả khói thuốc lá mơ màng nghĩ ngợi vẩn vơ... quên mất lũ tù đang vung cuốc xẻng dẫy cỏ. Liên đang ngồi nhổ cỏ, đột nhiên đứng dậy, ngó dáo dác chung quanh; xong thản nhiên đi thẳng ra hàng rào trước bao con mắt chứng kiến của bạn bè cùng Tổ. Anh bình tĩnh bước qua hàng rào ra ngoài đường và leo lên một chiếc xe Lam ba bánh vừa trờ tới đúng lúc (không biết do ngẫu nhiên hoặc cố ý?), đi mất dạng. Nhiều người nhìn thấy tận mắt nhưng lặng thinh không lên tiếng, vẫn chăm chú làm việc một cách bình thường; trong lòng người nào cũng cảm thấy khoan khoái vì bạn mình đi thoát. Mãi cả tiếng sau, tên vệ binh lẩm nhẩm đếm người. Y hốt hoảng đếm đi đếm lại hai ba lần mới xác định chắc chấn thiếu mất một tên tù...Báo hại toán lao động trên Bệnh xá bị hành hạ cả tuần lễ để truy cứu xem Liên làm gần anh nào? Tại sao biết mà không báo cáo v.v... Nhưng chẳng ai dại mà nhận làm cạnh Liên nên bọn quản giáo cứ quần thảo suốt ngày này sang ngày khác. Hôm ấy cũng báo động toàn trại như hôm nay.
Khối trưởng Long về đến Khối 21, đứng phổ biến những điều vừa được Hai Đề "quán triệt". Long nói:
- Ngay sau khi giải tán, các anh em phải lên sân bóng chuyên tập họp "đột xuất" toàn trại để nghe Trại trưởng nói chuyện.

2.


Sân bóng chuyền của Trại T.2 nhộn nhịp hẳn lên vì hàng ngàn tù nhân từ các Đội 1, 2, 3 và 4 đến tập họp. Tiếng các Khối trưởng kiểm điểm nhân số và những tiếng hô "Nghiêm! Nghỉ!" xen lẫn với những tiếng bàn tán của đám cải tạo viên tạo thành một âm thanh hỗn độn như một cái chợ. Tên Thượng úy Hợi, Trại trưởng đang loay hoay thử hệ thống máy vi âm cầm tay chạy pin.
Dáng người thấp lùn của y cộng với vẻ cục mịch càng làm hiện rõ hơn tác phong của một tên "bần cố nông chân chính", giai cấp nòng cốt của Đảng. Hợi há toác cái mồm rộng như miệng cá ngão ra "ngoạm" lấy chiếc micro nhỏ xíu: "A nô! A nô! ở đằng kia có nghe rõ không?" Rồi lại lấy ngón tay gõ cồm cộp vào micro... Một chiếc bục thuyết trình được hai cải tạo viên thuộc Khối 17 khiêng ra để trước Hội trường, ngay trên đường nhựa. Những tên vệ binh ôm súng AK đứng xung quanh gờm gờm nhìn đám tù nhân bằng ánh mắt căm thù như sẵn sàng nã đạn vào họ.
Sau khi các đội đã ổn định trật tự, tên Trại trưởng Hợi tiến đến bục thuyết trình, lại đưa tay gõ gõ vào micro, rồi nói bằng giọng gay gắt:
- Các anh có biết mục đích yêu cầu của buổi tập họp toàn trại hôm nay không?
Lác đác có tiếng trả lời "Không ! " một cách rời rạc của một vài Khối trưởng đứng ở hàng đầu... ở tù đã hơn 3 năm, đã di chuyển đến các trại lưu đây xa xôi, hoang dã nên đám tù cải tạo trở nên lì lợm. Họ không thèm chú ý đến những lời tuyên truyền láo khoét, rỗng tuếch của những tên cán bộ cộng sản ngu dốt đang cố lải nhải mớ lý thuyết cộng sản như một con vẹt lập lại những gì chúng học được một cách vô thức. Đám cải tạo đứng đó nhưng mỗi người thả hồn theo những kỷ niệm riêng tư, nghĩ suy riêng tư, hoặc thường chờ dịp làm ồn ào mất trật tự của buổi nói chuyện hoặc học tập.
Tên Hợi gằn giọng:
- Tên Nguyễn Thanh Thu đâu? Bước ra khỏi hàng?
Hai Đề, quản giáo Đội 4 và mấy tên Vệ binh như những con cọp dữ vồ mồi, hùng hổ phóng tới chỗ Nguyễn Thanh Thu từ vị trí của Khối 17, vừa bước ra khỏi hàng. Bằng động tác nhanh nhẹn đã được chuẩn bị sẵn; chúng dùng một sợi giây thép trói giật khuỷu tay Thu ra phía sau và hai ngón tay cái thì bị cột ngược về phía trước bụng. Cách trói này khiến nhiều người tù đã bị chết vì giây thép hằn sâu vào cánh tay làm độc. Sự đau đớn khiến các bắp thịt trên mặt anh co giật. Những giọt mồ hôi vã trên khuôn mặt xanh xao của người Điêu Khấc gia tài hoa. Anh cố giẫy duạ; nhưng càng giẫy duạ, sợi giây càng hằn sâu vào da thịt khiến anh đau đớn. Thăng vệ binh đứng gần đó dùng báng súng AK đánh mạnh vào ngực anh:
- Đéo mẹ. Thằng phản động này "đi nên nhà kỷ nuật (7). Mày còn giẫy duạ, ông đánh vỡ mặt.
Mấy tên cai tù xô đẩy anh đi về phía những thùng connex để nhốt tù đặt cạnh dãy nhà vệ binh sát hàng rào Trại T.3, gần cổng ra vào Sự việc xảy ra chớp nhoáng trước mắt đám tù khiến mọi người ngạc nhiên, xôn xao bàn tán; vì ước đoán của mọi người đều sai. . . Điều không thể ngờ là anh chàng Đại úy Nguyễn Thanh Thu hiền lành gần như nhút nhát kia chẳng bao giờ làm điều sai quấy gì trong Trại, trong Đội. Ai cũng biết sự hiền lành một cách gần như nhút
nhát cua Thu, thì làm sao lại có chuyện động trời để bị bắt trước mắt mọi người như một tên chống đối nguy hiểm như vậy. Sân bóng chuyền bỗng ồn ào như cái chợ... Tên Hợi gõ tay vào micro:
- Các Đội giữ trật tự để Trại làm việc.
Y phải gõ đến lần thứ 3 sân bóng mới thực sự trở lại yên lặng.
Thượng úy Hợi cao giọng:
- Tên phản động Nguyễn Thanh Thu sau 3 năm được đảng và nhà nước khoan hồng nhân đạo tha tội chết, tạo điều kiện cho học tập cải tạo để trở thành người lương thiện; đã không biết ăn năn hối lỗi mà vẫn còn ngoan cố tiếp tục chống đối cách mạng. Y vẫn giữ những tư tưởng phản cách mạng, phản nhân dân do bộ máy tuyên truyền của Mỹ Ngụy nhồi nhét trong các trường đào tạo Sĩ quan, để vận động, tuyên truyền, chống phá cách mạng; nói xấu đảng và nhà nước; xuyên tạc công cuộc cách mạng cải tạo xã hội Xã Hội Chủ Nghiã của nhân dân cả nước. Lịch sử vĩ đại của dân tộc ta đã chứng minh rằng với sự lãnh đạo tài tình, sáng tạo của đảng cộng sản, nhân dân ta đã giành được độc lập, tự do từ trong tay các thế lực đế quốc; xây dựng một nước Việt nam Xã Hội Chủ Nghiã nằm trong hệ thống Xã Hội Chủ Nghiã ưu việt trên toàn thế giới. Bánh xe lịch sử cứ thế mà quay tít và quay tít mãi. Nguyễn Thanh Thu đã đi ngược giòng lịch sử thì sẽ bị bánh xe lịch sử ngừng lại nghiền nát rồi sẽ tiếp tục quay tít mãi.. .
Tiếng cười ồ của đám cải tạo chế giễu sự ngu dốt của tên cán bộ cộng sản trước lý luận ngô nghê của y khiến khu sân bóng lại trở nên ồn ào. Thượng úy Hợi lại tưởng y diễn thuyết hay quá khiến đám tù phải ồ lên thán phục; nên nét mặt y càng trở nên vênh váo tự đắc Y thầm nghĩ: ..."Đảng cộng sản Việt Nam quả là tài tình sáng tạo, đã đào tạo y từ một tên nhà quê dốt nát trở thành một diễn giả hùng biện, thao thao thuyết giảng hàng giờ trước hàng ngàn tên sĩ quan ngụy tù cải tạo, mà trong lý lịch tên nào cũng có bằng cấp Tú Tài Một, Tú Tài Hai... thậm chí nhiều tên còn có cả bằng Tú Tài Toàn Phần nữa. Cả đám tù ngụy cứ ngây người ra nghe y rao giảng và còn phải ồ lên thán phục. Càng nghĩ, y càng cảm ơn đảng vô cùng vô tận. Nếu không có đảng, không chừng ngày nay y vẫn còn là tên nông dân nghèo nàn, lạc hậu. ngu dốt, và chậm tiến như cha y ở cái xó xỉnh Phú Thọ ngày nào..."
Hợi cao giọng giảng tiếp:
Sau 3 năm học tập cải tạo, tên phản động Nguyễn Thanh Thu vẫn không chuyển biến tư tưởng, không động não tiếp thu chân lý sáng ngời của Đảng cộng sản Việt Nam. Y vẫn còn luyến tiếc cái quá khứ làm tay sai cho đế quốc Mỹ xâm lược, vẫn mơ ước cuộc đời ôm chân đế quốc và vẫn còn luyến tiếc bức tượng phản động Thương Tiếc. Nguyễn Thanh Thu đã là một cán hộ Chiến Tranh Tâm Lý của Ngụy quân, mang cấp bậc Đại úy. Y đã đúc ra cái pho tượng phản động Thương Tiếc được bộ máy chiến tranh của Ngụy quyền đặt tại Nghiã Trang lính Ngụy ở Biên Hoà làm công cụ vận động binh sĩ Ngụy chống đối cách mạng, ngăn cản bước tiến của nhân dân; làm chậm công cuộc giải phóng đất nước khỏi sự kềm kẹp, bóc lột của Mỹ Ngụy. Các anh nên nhớ là một người dân trong công cuộc kháng chiến giải phóng đất nước của đảng, nếu chỉ đứng ngoài nhìn cũng đã là có tội với đảng huống chi các anh là những kẻ trực tiếp ngăn chặn bánh xe lịch sử thì tội của các anh còn nặng gấp ngàn tấn... Cho các anh biết. hiện nay ta đã kẻo đổ pho tượng phản động Thương Tiếc xuống ruộng để mất tàn tích văn hóa đồi trụy của bọn tay sai. Ngày hôm nay trại đã phát hiện tên Nguyễn Thanh Thu lén lút giấu 2 lá thư phản cách mạng trong 2 bức tranh vẽ Vợ 1 và Vợ 2, gửi tên Thượng sĩ Ngôn thuộc Đội 2 vừa được cách mạng khoan hồng cho ra trại đoàn tụ với gia đình, mang về cho vợ tên Thu. Cả hai tên Ngôn và Thu đều đã vi phạm nội quy của Trại Cải Tạo, vi phạm vào pháp chế Xã Hội Chủ Nghiã đều sẽ bị trừng trị một cách thích đáng. Riêng Nguyễn Thanh Thu thì mức độ vi phạm trầm trọng hơn, nó mang tính chất phản cách mạng cao độ, chống đối đảng và nhà nước, chống đối nhân dân... Vì vậy Trại quyết định phạt giam Nguyễn Thanh Thu vào nhà kỷ luật vô hạn định và kéo dài thời gian cải tạo..."
Tên Trại trưởng ngừng nói, đưa mất nhìn khấp lượt lũ tù nhân như ngầm đe doạ: "Chúng bay coi chừng! Thằng nào chống đối đảng sẽ được hưởng biện pháp chế tài như Nguyễn Thanh Thư' . Những người ta cải tạo lặng lẽ đưa mát nhìn nhau như ngầm chia sẻ nỗi tủi nhục của kiếp bại binh trong tay quân thù tiểu nhân, hiểm ác. Cộng sản lúc nào cũng rêu rao cho ràng những người cải tạo được "may mắn sống trong vòng rào đạo lý của cách mạng để được đảng khoan hồng, giáo dục thành người lương thiện".
Cộng sản sau khi chiếm trọn miên Nam đã tự nhận cái chân lý của kẻ thắng để đẩy đối phương của mình sang phải bất nhân, bất nghĩa; gán cho họ đủ mọi thứ tội trạng ghê gớm chỉ có trong đầu óc tưởng tượng bệnh hoạn của những kẻ mang mặc cảm dốt nát .
Sống trong bốn vòng rào đạo lý ấy, người cải tạo bị kẻ chiến thắng đầy đoạ trong tủi nhục hằng hằng; cộng sản muốn họ bị hoá thú trong những lao tù mà điều kiện sống không khác gì thời trung cổ; vì vậy ánh mất ngầm đe doạ của tên Trại trưởng Hợi chỉ là chuyện không đáng kể. Một bầu không khí ngột ngạt, khó thở bao trùm khu sân bóng chuyền. Mọi người lặng im như để chia sẻ nỗi nhục nhằn của bạn mình, vì ai cũng biết rằng một khi Nguyễn Thanh Thu rơi vào tay bọn vệ binh cuồng tín cộng sản, anh sẽ phải hứng chịu những trận đòn thù man rợ nhất và đê tiện nhất như nhiều anh em trước đó đã bị. Bây giờ thì ai nấy đều biết rõ lý do của buổi tập họp đột xuất toàn trại này. Cũng chỉ vì sự độc tài khát máu của cộng sản khi trả thù đối phương bằng cách đầy ải những Quân nhân, Công chức, Cảnh sát và Cán bộ Xây Dựng Nông Thôn của VNCH trong những trại biến hình cải tạo. Họ cố tình cô lập người tù bằng cách cắt đứt mọi liên hệ tình cảm với thân nhân nên người tù phải lén lút viết thư "chui" (8) cho gia đình bằng mọi cách. Hầu như người cải tạo nào cũng có ít nhất một lần gửi thư chui cho gia đình bàng cách này hay cách khác, dưới mọi hình thức. Họ gửi với mục đích cho gia đình biết tình trạng mình còn sống, hiện đang bị giam ở đâu và tìm để cho gia đình biết khi có dịp lên thăm nuôi thì mang những loại thuốc cần thiết v.v:.. Sự việc Nguyễn Thanh Thu gửi thư chui nhờ Ngôn mang về cho thân nhân là một chuyện rất bình thường đối với cái nhìn nhân bản của con người; nhưng đối với cộng sản, họ nâng lên hàng quan điểm và khép thành tội tày trời để dựa vào đó mà hành hạ trả thù người ta. Dưới xã hội cộng sản, con người không còn phải là con người nữa, họ trở thành một thứ ngưạ bị che hai mắt để chỉ nói, nghĩ, làm như cộng sản muốn... Nguyễn Thanh Thu trong những năm tháng dài tù đày, đã gói ghém tình cảm của mình trong những bức tranh hoạ hình thân nhân mà anh phải cặm cụi nhiều ngày để vẽ và nhờ người bạn được trả tự do mang về giúp. Anh đã quá ỷ y khi viết mấy giòng thư cho vợ, trong đó có nhắc đến bức tượng Thương Tiếc, như tiếc nuối đau đớn một công trình nghệ thuật tim óc của mình. Có lẽ vì quá cảm xúc khi nghĩ đến tác phẩm nghệ thuật giá trị Thương Tiếc, Thu đã có nhiều đoạn thư tỏ vẻ oán trách chế độ xã hội chủ nghĩa là nguyên nhân chính đưa đất nước xuống đáy vực thẳm, khiến nhân dân cả nước chịu nhiều khổ đau...Thu đã quá sơ ý khi không cho Ngôn biết giữa hai tấm hình vẽ có lá thư chui; nên Ngôn cũng không cất giấu cẩn thận. Khi bị khám xét trước khi ra cổng trại tù, Ngôn đã thản nhiên để hai tấm tranh cuộn tròn trước cặp mắt cú vọ của tên cán bộ phụ trách nghiệp vụ (9). Dĩ nhiên khi y mở cuộn giấy, lá thư đã rơi ra...
Trại trưởng Hợi sau khi lên lớp đám tù về nội quy và tiêu chuẩn học tập cải tạo để được tiến bộ ngõ hầu được thả về với gia đình, đã ra lệnh cho mọi người giải tán. Khu sân bóng ồn lên như cái chợ. Anh em cải tạo tụ tập thành từng nhóm 4, 5 người bàn tán xôn xao. Vũ tách khỏi đám đông, lững thững đi về phía chuồng heo sau Đội 3.
Anh cảm thấy mệt mỏi, buồn bã. Đầu óc mênh mang nghĩ suy. Anh cảm thấy uất nghẹn trong cổ, đau nhói trong lồng ngực buốt. Cái cảm giác hệt như lần chuyển trại từ Long Giao về Hốc Môn vài tháng trước đây. Khi đoàn xe Molotova chở tù đi ngang Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hoà, Vũ đã cảm thấy đau nhói trong lồng ngực, nỗi uất nghẹn dâng lên làm anh muốn ngộp thở khi nhìn thấy pho tượng Thương Tiếc bị cộng sản kẻo đổ nằm lỏng chỏng dưới đám ruộng ở chân đồi. Anh có cảm giác đau đớn, nhói buốt và tự dưng hai giòng nước mắt ứa ra. Nỗi buồn dã dượi phủ lên thân xác anh khiến anh mệt rũ người. Pho tượng Thương Tiếc đã trở thành một hình ảnh quen thuộc, gắn bó với những chiến sĩ thuộc mọi Quân Binh Chủng VNCH. Nó là biểu tượng cho sự quả cảm, tinh thần chiến đấu anh dũng, sức chịu đựng và sự hy sinh của người quân nhân phục vụ đất nước mà không nghĩ đến thân mình. Nó không còn mang sắc thái cá biệt của từng đơn vị, từng binh chủng nữa... Cho dù anh có là Biệt Động Quân, Thủy Quân
Lục Chiến, Biệt Cách Dù, Nhẩy Dù hay Không Quân, Hải Quân, Bộ Binh, Thiết Giáp, Pháo Binh. Công Binh, Quân Cụ, Quân Nhu... v.v... và v.v... cũng chẳng có gì khác biệt; có chăng chỉ là màu áo, tấm huy hiệu đơn vị... Tất cả chúng ta cùng đứng chung dưới mái ấm của đại gia đình quân đội, cùng chung một Mẹ Việt Nam và chung một nhiệm vụ bảo vệ tổ quốc... Quả thật không còn chỗ đứng cho những người như anh, cho dù cả ào người đã chết. Cái đau xót là ở chỗ đó. Không có chỗ dung thân cho ào người bị cộng sản gọi là Ngụy Quân, Ngụy Quyền trên ngay chính quê hương của hội Cộng sản hèn mọn ở chỗ không chỉ trả thù người sống mà ngay cả những người đã chết chúng cũng không tha. Chúng đã cho đào mồ cuốc mả những chiến sĩ VNCH đã hy sinh gìn giữ mảnh đất miên Nam trước sự xâm lược của cộng sản Bắc Việt và vẫn cử binh lính VC canh giữ nghiêm nhặt các khu Nghĩa trang Quân Đội VNCH như một hình thức cầm tù người đã chết; không cho thân nhân thăm viếng, tu bổ dọn dẹp, cúng lễ các mộ chí hoặc bốc mộ các tử sĩ về chôn ở quê hương bản quán... Buổi tối, lúc tập họp điểm danh thường ngày, Đỗ Đăng Hanh (l0) thì thầm vào tai Vũ:
- Hồi nãy toán nhà bếp mang phần ăn cho Nguyễn Thanh Thu đã bị bọn vệ binh đuổi về. Như vậy tối nay ông ấy chịu sao nổi !!
Những câu nói của Hanh khiến Vũ lùng bùng trong đầu. Anh có cảm tưởng như cả thân mình nổi gai ốc... "Như vậy ông ấy chịu sao nổi!! Như vậy ông ấy chịu sao nổi!...." Bọn vệ binh Việt cộng dã man ở chỗ chúng bất tù nhân nhịn đói để không đủ sức chịu đựng; rồi sau đó mới dùng cực hình đánh đập, tra tấn. Vũ lo âu cho người bạn tù Nguyễn Thanh Thu sẽ phải chịu những nhục nhằn khổ ải như các trường hợp của các bạn tù khác ở các Trại Vũ đã đi qua. Gió khẽ lay động vào cành cây điệp xao xác trên cao. Bầu trời không một vì sao, thăm thẳm màu đen u tối. U tối như cuộc đời của ào người chiến sĩ can trường của Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà bị sa cơ thất thế trong lao tù cộng sản, không thấy tương lai.

3.

Buổi tối, sau khi điểm danh xong, Vũ kẻo Hanh và Trần Văn Hưng (11) ra một góc vắng. Hanh là một sĩ quan trẻ tuổi thuộc Sư Đoàn 21 Bộ Binh, độc thân, gan dạ, liều lĩnh; Trần Văn Hưng là một sĩ quan An Ninh Quân Đội thuộc Tiểu khu Bình Long. Ba người thường tâm sự với nhau vì cùng có những suy nghĩ giống nhau về cộng sản, cùng thù ghét cộng sản giống nhau nên chơi rất thân với nhau. Hai người bạn kia đều nhỏ tuổi hơn Vũ, nên trong đối xử, họ vẫn coi chàng như một người anh. Ba người lẩn trong bóng tối, mắt trước mắt sau thì thào bàn tán. Vũ nói:
- Ê Hanh! Mình còn chút gì ăn được không?
- Còn. Nhưng có chuyện phải dùng rồi. Hanh nói.
- Nhớ gói theo một ít thuốc trụ sinh, thuốc bổ và thuốc tiêu chảy. Hưng nói.
Cả ba cùng cười. Dù chưa nói với nhau về ý định thầm kín của mình, nhưng ba người bạn đã có chung một suy nghĩ, một dự tính. Chỉ có sự thân thiết, đồng tâm mới hiểu nhau như vậy.
Hanh sôi nổi nói:
- Lát nữa Hưng chuẩn bị mấy thứ vừa nói, gói kỹ trong bao nylon. Khuya nay tôi sẽ hành động.
- Làm sao mang đến chỗ nhốt ông Thu? Hưng băn khoăn.
- Tôi sẽ bò dọc con mương từ Khối mình chạy ngang qua khu nhà Vệ binh để tiếp tế cho tù trong nhà kỷ luật. Nhớ gửi cho Thu một bi đông nước. Hanh đã từng bị giam trong thùng connex này gần một tuần lễ nên có nhiều kinh nghiệm máu và nước mắt .(12)
Bóng đêm phủ kín khu trại giam T2 một màu đen thăm thẳm. ánh đèn điện vàng vọt hắt ra từ những căn nhà chứa tù cũng không xua tan được cái bóng tối âm u của khu Thành ông Năm Hốc Môn. Vũ, Hanh và Hưng đứng nói chuyện vu vơ trong bóng tối nhoè nhoẹt ấy cho đến khi kẻng báo hiệu giờ ngủ mới kéo nhau về phòng giam. Gió vi vu lạnh, sương xuống ướt vai áo. Vũ khẽ rung mình, anh bảo hai bạn:
- Thôi về chuẩn bị các thứ là vừa. Kẻng ngủ đã gõ rồi, bọn "cá sấu (13) sắp đi tuần, để chúng bắt được thì hỏng chuyện.
Ba người bước qua tấm vỉ sắt bắc ngang con mương để vào Khối 21. Anh em trong Khối đã buông mùng. Tiếng nói chuyện rì rầm về những kỷ niệm cực nhọc trong lao tù vẫn lao xao ở từng góc nhà hoà lẫn với tiếng ngáy của một vài anh em ngủ sớm và tiếng thở dài trăn trở của những anh em khó ngủ vì hay lo lắng, nghĩ ngợi... tạo thành một thứ thanh âm hỗn độn. Hơn 50 người bị nhét như cá mòi trong một căn phòng chật hẹp nên mùi hơi người xông lên nồng nặc. Huỳnh Quang Trung (14) có nhiệm vụ gác ca đầu cũng đã chuẩn bị ghế ra ngồi giữa cửa ra vào của Khối 21 .
Từ sau ngày nhóm Lầu Lý Phốc, Trung úy thuộc Liên Đoàn 81 Biệt Cách Dù vượt ngục (15), bọn Việt cộng đã bày ra cái trò bắt tù canh gác tù vào ban đêm sau khi có kẻng ngủ lúc 9 giờ đêm cho đến khi có kẻng báo thức lúc 6 giờ sáng. Trước khi chui vào mùng, Hanh ghé tai Vũ dặn nhỏ: "Nhớ đánh thức tôi đậy khoảng 2 đến 3 giờ sáng nhé!"...


4


Tiếng rên khe khẽ vọng lại từ phía nhà Vệ Binh khiến Vũ choàng tỉnh Anh chồm người ra ngoài phòng nghe ngóng. Tiếng rên theo từng cơn gió thoảng chập chờn trong đêm vắng, len vào từng dãy nhà giam nghe thảm thương một cách khó tả. Vũ đang định lồm cồm chui ra thì có tiếng của Hanh khiến anh giật mình: "Ông có biết tiếng ai rên không?"
- Không! Nhưng dường như phát ra từ phía nhà kỷ luật. Vũ khẽ nói.
Hanh thì thào:
- Bây giờ tôi với ông ra ngoài xem. Ông canh chừng ở gốc dưa tây; tôi đi dò thám thử xem sao. Tôi nghĩ đúng là tiếng rên của ông Thu.
Vũ khẽ thở dài thì thào:
- Chắc chắn là tiếng rên của Nguyễn Thanh Thu rồi. Tội nghiệp cho anh chàng quá.
Vũ và Hanh rón rén đi ra khỏi Khối 21 bằng cửa sau, lối đi ra mấy luống rau muống và cầu tiêu; nép mình trong bóng đêm nghe ngóng. Vũ còn cẩn thận ngó lại xem ai đang canh gác giờ này; anh an tâm khi thấy Quân Trố (16) đang gác. Ở trong chỗ hỗn tạp này cần phải cẩn thận vì mặc dù đa số anh em tù đều giữ vững tinh thần đấu tranh chống cộng và lập trường quốc gia vững mạnh nhưng vẫn có một vài bạn yếu hèn làm ăng ten cho cán bộ Việt cộng sẵn sàng đạp lên xác chết anh em đồng cảnh ngộ để mong được Việt cộng thả về. Quân thì Vũ tin được vì là bạn đánh mạt chược với anh từ nhiều năm qua và đã hiểu lập trường của nhau.
Gió lao xao lay động ào cành cây điệp, ào lá dưa tây trên cao. Hanh nói đủ cho Vũ nghe:
- Ông nấp ở gốc dưa tây canh chừng. Tôi thử bò dọc con mương xem sao. Nếu thấy "bia lên" (17) thì làm tiếng mèo kêu cho tôi biết.
Nói xong Hanh băng mình vào đêm tối. Anh bò theo con mương đã cạn khô vì nắng hè, dọc đường lộ phía trước Khối 21. Mồ hôi ướt đẫm lưng áo. Đất khô ran như những cục đá cọ xát vào khuỷu tay khiến anh có cảm giác tê rát, đau đớn; nhưng Hanh nghĩ cái đau của anh còn êm ái hơn cái đau đớn mà Nguyễn Thanh Thu đang phải chịu đựng. Nghĩ đến bạn, lòng anh nhói buốt, tự nhiên quên hết cả đau.
Hanh đã bò đến gần khu vực nhà ở của Vệ binh, anh nhìn thấy lờ mờ trong ánh sáng nhoè nhoẹt hắt ra từ khe cửa của khu nhà vệ binh, các tên lính Việt cộng với những khẩu AK.47 đang đánh đập một khối đen như rũ xuống ở gốc cây điệp cạnh nhà ở của chúng. Mỗi báng súng nện xuống, từ chỗ ấy lại phát ra tiếng rên khe khẽ.
Dường như nạn nhân không còn hơi sức để rên. Dường như cả khối thịt bèo nhèo kia chỉ còn là một cái xác thoi thóp, không đủ sức để quằn quại, chống đỡ những cú báng súng đánh vào ngực, vào bụng... Anh rũ xuống, người như lạc vào cơn đồng thiếp và ngất đi Hanh nằm dưới đường mương, trong bóng đêm dày đặc. Lòng anh nhói đau, mặt anh nóng bừng và suốt dọc sống lưng như có muôn ngàn mũi kim nhọn đâm vào khiến anh nhói buốt. Hanh cố nuốt căm hận, cố dằn những xúc cảm đang dâng trào. Anh tự dưng thấy mình hèn hạ và nhút nhát quá khi nhìn thấy kẻ thù hành hạ đồng đội mà không dám làm gì. Nhiều lúc anh muốn phóng lên khỏi con mương, nhào lại đám vệ binh... rồi muốn ra sao cũng được.
Nhưng cho dù Hanh có xông ra cũng chẳng giúp ích gì cho bạn mình mà chỉ làm mồi cho bọn giặc cộng cuồng tín kia xúm vào cắn xé như con thú rừng đói khát máu tươi lâu ngày; anh cắn chặt hai hàm răng, nuốt hận thù nhìn bạn mình bị địch quân hành hạ.
Tự dưng anh thấy mát mình ướt nhẹp. Có tiếng của một tên vệ binh nói:
- Đéo mẹ. Thằng phản động ngất đi rồi. Đừng có vờ vịt, mày muốn Thương Tiếc, ông cho nếm mùi Thương Tiếc. Nói xong hắn thúc thêm mấy báng súng nữa vào người Nguyễn Thanh Thu. Khi thấy anh chỉ còn mềm nhũn như mớ giẻ rách, người gập xuống, tóc loà xoà trên mặt, dính bê bết máu khô quánh; hắn quay sang nói với đồng bọn:
- Lôi cổ nó vào "nhà ghi" (18) đi tụi mày!
Bọn chúng cời giây trói cho Thu, nắm tóc anh lôi xềnh xệch dưới đất, liệng vào thùng connex và dùng một sợi xích sắt khóa chặt cánh cửa sắt của thùng connex. Bọn vệ binh kéo nhau vào nhà, nói chuyện với nhau ồn ào một lúc lâu rồi im bặt. . .
Hanh lồm cồm định bò ngang con đường nhựa để sang bên khu nhà vệ binh, đến bên thùng connex xem Thu ra sao. Vừa trườn mình lên đường mương, Hanh chợt nghe tiếng dép Bình Trị Thiên lệt xệt kéo lê trên đường, lại vội vàng thụp người xuống, dán sát mình vào con mương cạn, ngay miệng cống thông qua con đường nhựa mà bọn vệ binh thường đi qua lại để ra mấy vọng gác ngoài hàng rào.
Thằng vệ binh vác ngược khẩu AK trên vai, vừa đi, vừa ngoác cái mồm cá ngão ra hát một bản nhạc vàng của Sài gòn mà trước đây ca sĩ Thanh Tuyền thường hay hát. Giọng khàn khàn vịt đực ngọng nghịu miền Hải Phòng của hắn khiến bài hát trở nên lố bịch, trơ trẽn: "Mỗi lăm đến hè nòng mang mác buồn..." (19). Nếu ông nhạc sĩ sáng tác bản nhạc mà nghe được cái giọng quái đản của hắn lúc này chắc phải chối bỏ tác phẩm của mình. Hắn đi ngang qua chỗ Hanh nằm sát lòng con mương tối tăm mà không ngờ là có một tên Ngụy tù cải tạo đang nằm dưới đó. Khi đi ngang thùng connex, hắn cúi xuống nhặt một hòn đá to, ném thật mạnh vào thùng sắt. Một tiếng ầm lớn vang lên giữa đêm khuya khiến lũ vệ binh trong nhà lầu bầu chửi thề:
- Đéo mẹ! Thằng "lào" đấy? Ông lại đẹt cho một phát bây giờ.
- Bố mày đấy. Thằng vệ binh vừa về đến nói. Thằng nào đến phiên đổi ca gác không chịu ra thay cho bố?
Lũ vệ binh lại ồn ào nói chuyện, chúng kể cho tên vệ bình mới đến nghe chuyện đánh đập Nguyễn Thanh Thu như một thành tích lẫy lừng, một chiến công hiển hách mà chúng vừa đánh gục một người bị trói vào gốc cây. Thằng nào cũng tranh nhau nói, tranh nhau kể ồn ào mãi. ..
Hanh biết không thề liều lĩnh bò đến gần chiếc thùng connex trong đêm nay. Lớ ngớ có thể ăn cả băng đạn AK vào người. Anh bò ngược về Khối 21. Bò được nửa được nửa đường thì gặp Vũ cũng đang nằm dưới đường mương. Hai thằng kéo nhau về lòng buồn dã dượi.

5.

Một buổi sáng tháng 7 năm 1978, đoàn xe Molotova bít bùng nối đuôi nhau tiến vào Trại Hốc Môn, chúng túa vào các trại, đậu dưới mấy gốc cây bã đậu lớn. Các tên tài xế mặt mũi nhếch nhác, nhễ nhại mồ hôi; nhảy khỏi buồng lái, cởi phanh ngực áo, dùng chiếc nón cối quạt phành phạch. Những tên vệ binh tháp tùng xe lăm lăm khẩu AK, mặt tên nào cũng đầy sát khí. Trong khi đó ở các trại, tiếng kẻng tập họp đột xuất vang lên inh ỏi... Tiếng chân chạy rầm rập trên đường, tiếng điểm số một, hai, ba, bốn... của đám tù cải tạo, cộng với tiếng hô nghiêm, nghỉ khiến tình hình có vẻ căng thẳng. Những tên quản giáo trông coi các Đội, tay cầm danh sách tù nhân, tất tưởi chạy lên, chạy xuống một cách vội vã.
Ai cũng đoán biết đây là đợt chuyển. trại, một công việc thường xảy ra trong nhà giam của cộng sản. Danh sách những người bị chuyển trại được đọc, những người có tên trong "danh sách học tập cải tạo tốt được chuyển đến nơi mới tạo điều kiện học tập tốt hơn thì sẽ được thả...", theo như cán bộ Trại phó biến như vậy; nhưng mọi người thừa hiểu mánh khoé bịp bợm láo khoét của cộng sản để trấn an người tù bị chuyền trại mà thôi, vì cứ nhìn vào thành phần bị gọi tên chuyển trại người ta thấy ngay tuần thuộc thành phần mà đảng gọi là "có nhiều nợ máu với nhân dân" thì biết là sẽ bị chuyển đi những nơi khắc nghiệt hơn. Ai nấy cũng tất tưởi chạy về chuẩn bị gom góp đồ đạc. Đồ đạc của tù thì chỉ có vài manh áo rách, mấy cái lon Guigoz vậy mà cũng chất cả một cái "sac de marin" (19). Cuộc chia tay nào trên cõi đời này cũng đầy những bịn rịn, quyến luyến và buồn thảm. Nhất là kiếp tù đầy, cùng chung số phận của kẻ bại binh trong tủi nhục hằng hằng, dưới đáy địa ngục đỏ; nên cái tình thân trong tù nó còn thắm thiết hơn, sâu đậm hơn bất cứ thứ tình nào trên cõi đời này. Những cái bắt tay từ giã giữa những kẻ cùng cảnh ngộ dù không ướt sũng nước mắt nhưng đầy luyến lưu trong khi lòng thì ngập hận thù lũ cộng phỉ phi nhân. Những người có tên trong đợt chuyển trại kỳ này đều đa số thuộc ngành An Ninh, Tình Báo, Chiến Tranh Chính Trị và Quân Cảnh như: Huỳnh Quang Trung, Võ Quý Hy, Hùng Rè, Huỳnh Thành Vị, Nguyễn Văn Minh ... cùng các bà Nữ quân nhân như Đại tá Hương, Trung tá Vẽ, Thiếu tá Phượng v.v... Khi toán chuyển trại đã được dồn lên các xe Molotova, bọn vệ binh áp tải Nguyễn Thanh Thu từ trại T.2 và Võ Văn Tưng từ Trại T.4 lên chiếc xe cuối cùng. Họ vẫn bị còng tay, người gầy guộc với lớp da mỏng dính bám trên từng lóng xương khẳng khiu, bước những bước đi chệnh choạng như người say rượu vì bị cùm lâu ngày trong connex. Chỉ có vài tuần lễ mà người nào trông cũng già đi hàng chục tuổi... Trước khi leo lên xe, Nguyễn Thanh Thu đưa mắt nhìn vào trong trại như có ý từ biệt anh em, mặt sũng buồn. Vũ đứng lặng bên hàng rào kẽm gai nhìn theo đoàn xe nối đuôi nhau cuốn bụi mù mịt, chạy ra phía cổng lớn của Thành Ông Năm. Anh cảm thấy như mất mát từng phần của cơ thể. Lòng buồn day dứt. (20)

VŨ UYÊN GIANG
Ghi chú:

(1) Tôle: VC thường gọi là tô ne
(2) Phan Bình Định: Trung úy Khoá 2 CTCT Đá Lạt. Đại đội phó Biệt Động Quân.
(3) Vũ Quang Phục: Trung úy Hải quân phục vụ tại Bộ Tư Lệnh HQ Saìgòn. ông Phục là một trường hợp hi hữu vì đơn vị tại Sàigòn, nhưng lại bị VC bắt làm tù binh ở Mộc Hoá năm 1971; nhưng ông không được chúng trao trả tù binh năm 1973. Bị giam nhiều năm ở Kampuchea, sau đó chuyền ra Bắc... Sau năm 1975, được chuyển về Trại Cải tạo Long Giao...
(4) Nguyễn Văn Long: Trung úy phụ trách một đơn vị Phòng Không trú đóng tại Phú Lâm. Hiện Long đang định cư tại Nam Califomia.
(5) Giao ban: từ của VC. Phiên họp hàng ngày để báo cáo tình hình nhân số và nhận các chỉ thị từ Ban Chỉ Huy Trại.
(6) Quản người khang chặt: từ của VC. Không giữ người kỹ càng. Quản lý người không chặt chẽ.
(7) "đi nên nhà kỷ nuật" : đi lên nhà kỷ luật.
(8) thư chui: thư gởi lén về cho gia đình
(9) Nghiệp vụ: ngành chuyên môn (ở trong truyện là cán bộ an ninh)
(l0) Đỗ Đăng Hanh: Trung úy Sư đoàn 21 Bộ binh. Một sĩ quan trẻ tuổi gan dạ và quả cảm. Ngay sau khi có lệnh của Dương Văn Minh đầu hàng địch quân, Hanh vẫn tiếp tục chỉ huy binh sĩ dưới quyền chiến đấu cho đến khi bị bắt. Trong tù, khi bị VC hỏi là anh đã giết bao nhiêu chiến sĩ cách mạng, Hanh hiên ngang trả lời: "Tôi đã tiêu diệt hàng ngàn tên VC nên đâu nhớ nồi chính xác là bao nhiêu?" Chức vụ cuối cùng của Hanh trước ngày 30-4-75 là Tiểu đoàn phó.
(11) Trần Văn Hưng: Trung úy thuộc Ty An Ninh Quân Đội Bình Long. Hưng là em ruột của Chuẩn tướng Trần Văn Nhựt
(12) Hanh bị nhốt một tuần lễ trong connex vì đánh mạt chược
(13) cá sấu: tiếng lóng trong tù gọi bọn cộng sản, gọi tắt từ chữ CS. Đôi khi anh em còn gọi là "cọc sắt bệnh viện" từ chữ CSBV - cộng sản Bắc việt.
(14) Huỳnh Quang Trung: Trung úy Sĩ quan Quân báo thuộc Tiểu khu Kiên Giang. Trung hiện cư ngụ tại San Jose, Califomia.
(15) Lầu Lý Phốc: Trung úy Sĩ quan thuộc Liên đoàn 81 Biệt Cách Dù. Anh cùng 2 người nữa vượt ngục ở Hốc Môn. Khoảng 1 tháng sau thì bị bắt ở đất Miên.
(16) Quân Trố: Hoạ sĩ Nguyễn Minh Quân, Trung úy thuộc Tiều đoàn 50 CTCT. Hiện Quân đang cư ngụ tại Chicago, Illinois. Nguyễn Minh Quân đã qua đời ở Chicago năm 2008 khi vừa tròn 60 tuổi
(17) bia lên: ngày xưa tấm bia để tập bấn tại các quân trường là mặt tên VC. Vì vậy khi kêu bia lên có ý nói có VC đến.
(18) nhà ghi: thùng connex bằng sắt để chuyên chở hàng. VC dùng để nhốt tù
(19) sac de marin (tiếng Pháp): túi đựng quân trang của lính
(20) Nguyễn Thanh Thu đã sang Hoa kỳ định cư ở Nam California và hiện nay đã trở về sống ở Quận Phú Nhuận, Saigon

MÓN QUÀ CUỐI NĂM

MÓN QUÀ CUỐI NĂM


Vũ nhặt mấy cục than quả bàng nhỏ bằng đầu ngón tay cái bỏ vào chiếc lò làm bằng thùng tôn đựng nước. Đây là tác phẩm vĩ đại của Nguyễn Ngọc Cán, Chuẩn úy Trưởng Ban 2 Chi Khu ở Tỉnh Kiên Giang (1). Để chuẩn bị nấu nướng trong dịp Tết, Cán đã hì hục mất mấy ngày gò cái lò tôn và nắn những cục than quả bàng đem phơi khô trên mái nhà. Tiếng than nó tí tách và những hoa lửa bay ngoằn ngoèo trong không gian như pháo bông trông thật vui mát, khiến Vũ quay quắt nhớ ào đêm thức canh nấu bánh chưng khi còn trai treo ở dưới mái ấm gia đình. ánh đèn điện vàng vọt hát ra từ những dãy nhà tôn của Trại K.1 Suối Máu (Biên Hòa) không đủ soi sáng cái bóng đêm dày đặc của tối ba mươi.
Chung quanh chỗ Vũ, từng ánh lửa bập bùng tỏa ra từ những chiếc lò con kê dọc hai bên hiên nhà và từng nhóm người lui cui nấu nướng, bóng họ hất nhòe nhoẹt trên vách như những người không tô, đen đúa. Cảnh tượng náo nhiệt y như là một cái chợ đêm ở ngoài Bắc trong thời kỳ tản cư, mà thuở ấu thời anh đã trải qua, bây giờ vẫn còn hạn sâu trong trí nhớ. Tiếng nói cười vang cả một góc sân.
Chỉ còn mấy tiếng đồng hồ phù du nữa là bước sang năm mới, năm Kỷ Mùi 1979, cũng là cái Tết thứ tư của các Quân Nhân Công Chức, Cán bộ XDNT, Cảnh Sát Quốc Gia VNCH trong lao tù cộng sản Hầu hết anh em đều đã được gia đình lên thăm nuôi, tiếp tế vào những ngày giáp Tết; mang vào cho họ những bao quà nặng trĩu ân nghĩa của gia đình mà những bà mẹ, những người vợ, người chị, người em đã nhịn ăn, nhịn mặc chắt chiu gói ghém mang lên nuôi người tù bất hạnh trong đáy sâu địa ngục đỏ. Phải nói rằng tình thương của gia đình những người tù cải tạo thật là to lớn vô bờ vì dưới chế độ hà khắc của cộng sản, mọi người đều thiếu ăn, thiếu mặc như nhau; mọi người đều bị kiểm soát cái bao tử chặt chẽ giống nhau, nhưng họ vẫn dành dụm, chắt chiu mang lên thăm nuôi tù, hòng an ủi kẻ bại binh không bị cô đơn trong mặc cảm bị bỏ rơi toàn diện. Nghĩa cử ấy thật là vĩ đại, con người phải vinh danh những bà mẹ, những bà vợ, những chị, những em của các người tù trong các trại hóa thú của cộng sản... Nhờ có quà thăm nuôi dịp cuối năm nên chỗ nào cũng tổ chức thành từng nhóm tiệc tùng, chè cháo đón giao thừa. Đây là lần đầu tiên lũ tư nhân được hưởng một cái tết thật thoải mái và tự do nhất trong 4 vòng rào kẽm gai của đạo lý xã hội chủ nghĩa. "Tự Do! " Hai chữ thật mong manh, tự nó đã có những hấp lực khiến con người thèm thuồng, khao khát; nhất là những người sống dưới sự cai tù bạo tàn của cộng sản. Tự do đã trở thành một thứ xa xỉ phẩm trân quý trong cái xã hội cộng sản đầy rẫy những nhà tù từ Bắc chí Nam sau ngày 30-4~975. Tự Do! Hai tiếng quen thuộc mà nghe sao xa lạ như vọng về từ tiền kiếp xa nào và thật là mỉa mai khi nói rằng sống trong lao tù cộng sản mà được hưởng sự tự do... Cái tự do trong những thiên đường cộng sản chỉ là một thứ bánh vẽ, đảng đã dùng để lừa mị nhân dân và lừa mị chính mình. Mọi người "được tự do nói theo những gì đảng nói, lãnh tụ nói và nghĩ theo những gì đảng nghĩ dù đó là những điều gian dối; không được quyền thắc mắc, hay ra ngoài khuôn thước này. Mọi người được tự do sống trong những khuôn mẫu đảng nắn và làm rập khuôn những điều đảng dạy. Con người trở thành những cái máy: đi, đứng, nói, nghĩ, làm, ăn, ở, mặc v.v... rập khuôn giống nhau. Nếu phần tử nào đi chệch choạc đường đảng vẽ thì sẽ bị đảng loại trừ không thương xót không kể kẻ đó là người dày công hãn mã xây dựng đảng hay là người trước kia đã từng cầm cân nảy mực soạn thảo các kế hoạch cho đảng.
Vậy mà đám tù nhân cải tạo trong khu Trại Suối Máu Biên Hòa đã được hưởng chút tự do hiếm quý ấy trong một thời gian ngắn ngủi. Đó là một sự thật không tưởng, sau cuộc biểu tình ngồi của hơn 5000 tù nhân cải tạo thuộc 5 Trại: K.1, K.2, K.3, K.4 và K.5 vào đêm Giáng Sinh 24-12-1978. Giữa cái giá lạnh của thời tiết mùa đông, Tiếng hát "Đêm đông lạnh lẽo Chúa sinh ra đời. Nằm trong hang đá, nơi máng lừa..." của hơn 5000 cái miệng tù đã vang vọng cả khu Hố Nai, lồng lộng bay trong gió vang xa khắp nơi như một thách đố hùng hồn, nói lên sự can đảm phi thường, tinh thần anh dũng bất khuất trước bạo lực và lập trường chống cộng vững vàng của những Quân Nhân, Công Chức, Cán bộ Xây Dựng Nông Thôn, Cảnh sát Quốc Gia VNCH trong lao tù. Sự kiện bất thường này khiến bọn cai tù cộng sản bối rối, lúng túng không biết xử trí ra sao trước diễn biến bất ngờ này. Cuối cùng tên Trung tá Đào Lượng, Chánh Giám Thị Nhà Giam Chí Hòa 2 (tức Trại Suối Máu) đã phải ra lệnh cho thuộc hạ thả 3 anh em tù nhân bị chúng bắt giữ ở K 1 khi đang tham dự Thánh Lễ nửa đêm. Nguyên nhân chính của cuộc biểu tình phát xuất từ việc bắt giữ 3 Cải tạo Viên ở K1 này kéo theo các K.2, K.3, K.4 và K.5 cùng tham gia cuộc biểu tình ngồi ngoài sân bóng giữa đêm đông giá lạnh. Bọn cộng sản phải huy động xe thiết giáp đến vây khu Trại Suối Máu; nhưng rất may là chúng đã nhượng bộ kịp thời nên không xảy ra cuộc tàn sát đẫm máu vì phe biểu tình cũng đã dự kiến trường hợp bị bọn chúng đàn áp nên người nào cũng chuẩn bị vũ khí là những cây gỗ hoặc thanh sắt, chấp nhận liều chết, lấy số đông đạp rào tiêu diệt cộng sản.
Thà chết một số người nhưng cũng thoát được một số người và cũng diệt được một số cộng sản còn hơn ngồi im cho chúng mặc tình sát hại… Từ sau vụ "nổi loạn" này, bọn Công an VC đâm ra gờm tù cải tạo trong Trại. Chúng không dám ngang nhiên đi vào trong Trại lẻ tẻ như trước. Hàng ngày, cứ sau 6 giờ chiều, khi bóng tối bất đầu phủ xuống khu nhà giam, bọn cai ngục khóa chặt cổng ra vào và từ lúc đó cho đến sáng không một tên nào héo lánh vào Từ sau ngày đó, tù nhân cải tạo được hưởng chút tự do tạm bợ trong 4 vòng kẽm gai nhà giam. Anh em thường tổ chức sinh hoạt văn nghệ hàng đêm để hát những bản nhạc chống cộng của Cục Chính huấn trước kia, tụ họp ăn uống, chè cháo, trò chuyện v.v... từ nhà này sang nhà khác và chui rào sang các Trại kế cận để thăm nhau.

Hồ Văn Hiếu (2) lễ mễ bưng nồi thịt kho từ dưới khu nhà bếp trở về Đội 16. Anh chàng Chuẩn úy Phòng 2 Tiểu khu Long Khánh tuy mới 23 tuổi đầu, với hơn một năm làm lính nhưng cũng đã trải qua 4 mùa xuân đau thương trong lao tù. Bạn bè thường gọi anh là Hiếu Voi vì chiều cao quá khổ và vóc dáng kềnh càng. Hiếu Voi lúc nào cũng xông pha gánh vác những công việc nặng nhọc thay cho các đàn anh gầy còm, ốm yếu. Chiều 29 Tết, Hiếu Voi và một số anh em thuộc Đội 18 của Thượng sĩ già Nguyễn Quang Quýnh, Phòng 2 Tiểu khu Phước Long (3), đã nhận được nhiệm vụ theo Hậu Cần ra chợ Biên Hòa tải hàng về ăn Tết. Bà con buôn bán ở chợ khi biết đám người ăn mặc rách rưới đang khuân vác hàng là Sĩ quan cải tạo liền bảo nhau "phát động căm thù”; họ ùn ùn kéo nhau đến ném vào những tên "ác ôn có nhiều nợ máu với nhân dân" thôi thì đủ mọi loại: bánh chưng, bánh tét, mứt, kẹo, trà, sữa, đường, thuốc lá v.v... Nhiều người còn dúi cả tiền vào tay những người tù, nhưng các anh không dám nhận vì biết đây là tiền mồ hôi nước mất lao động chật vật của đồng bào. Trái với sự tuyên truyền bịp bợm của cộng sản: "Đảng và nhà nước khoan hồng nhân đạo, tạo điều kiện cho các anh ở lại Trại để học tập cải tạo; vì nhân dân bên ngoài đã xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội nên khi gặp các anh, họ sẽ phát động căm thù ném đá vào các anh thì làm sao chúng tôi bảo vệ được? Đảng phải giữ các anh là để bào vệ an ninh cho các anh..."
Cái tình cảm của dân chúng Miền Nam đành cho những anh em cải tạo nó bao la như biển rộng mà các anh đã gặp trên khắp mọi nơi. Nhân dân Miền Nam lúc nào cũng dành tình thương mến sâu đậm với chiến sĩ VNCH; nhất là trong hoàn cảnh lao tù; nên bất kỳ ở đâu, khi người tù đi ra ngoài, gặp được dân chúng là y như rằng sẽ được họ tiếp tế đủ mọi thứ theo khả năng của từng nhóm người. Có lẽ đây là một cách họ ngầm cảm ơn sự hy sinh cao cả của anh em khi xả thân phục vụ đất nước bảo vệ sinh mạng và tài sản cho chính họ, nay sa cơ thất thế trong vòng tay bạo tàn của cộng sản, họ tìm cách ngầm trả ơn; nhưng cũng có thể chỉ vì lòng thương hại cho kẻ thất thế cá chậu chim lồng mà ra tay cứu giúp. Dù sao chăng nữa tình cảm cao quý ấy cũng làm ấm lòng những người tù. Nhưng không phải tất cả mọi người đều có lòng tốt bụng như vậy, mà ở một số địa phương có nhiều kẻ vì theo đóm ăn tàn, muốn lập công nên cũng hà hiếp đồng bào để tiến thân..., gặp những phần tử này, anh em cũng bị nhiều nỗi đau đớn, oan khiên.
Hiếu lợi dụng lúc nhốn nháo, đông đúc, chạy vội lại hàng thịt mua được vài ký thịt heo, người bán hàng chỉ lấy với giá tượng trưng; nhờ vậy tối nay bọn chàng có được nồi thịt heo béo ngậy để ăn với dưa chua... Cũng may toán công tác về đến Trại quá tối nên không bị vệ binh gác cổng khám xét gì cả; hơn nữa bọn vệ binh thấy tải hàng Tết về nên bọn chúng cũng chộn rộn chờ được chia chác khẩu phần Tết. Nhờ vậy quân ta hoàn toàn không tổn thất gì...
Lê Văn Lâm (4), Trung úy, Sĩ quan Không ảnh của Phòng 2 thuộc Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn III và Phạm Anh Tuấn (5), Trung úy, Sĩ quan An Ninh của Trung Tâm Thẩm Vấn Quân Đoàn III có nhiệm vụ kê bàn ghế cho bữa ăn tối nay của cả nhóm. Những chiếc bàn con được kê liền sát nhau ở lối đi giữa hai Đội 15 và 16 K.1, dưới tàn trứng cá. Không hiểu anh chàng cải tạo nào đã có sáng kiến trồng trứng cá chung quanh nhà, vừa có bóng mát làm dịu đi cái nóng như thiêu đốt của trưa hè, vừa có trái ngọt để ngày ngày từng anh ra ngửa cổ lên tàn cây trứng cá tìm kiếm chút chất ngọt bồi dưỡng cho cái cơ thể thiếu đường kinh niên, căn bệnh chính của mọi người tù. Toàn trại K 1 đều được trồng những cây trứng cá dọc theo hiên nhà, mỗi cây cách nhau độ 3 mét, nên bóng mát che rợp lối đi giữa hai căn nhà. Cũng chính vì thế trong trại đã nảy sinh ra một cái nghề không giống ai: nghề nuôi bọ ngựa. Có lẽ cái nghề này chỉ phát được trong trại tù khi người ta bị dồn vào cùng đường nên tìm mọi thứ tiêu khiển để quên tháng ngày dài đăng đẳng trong 4 vòng rào kẽm gai để không còn phải nghĩ ngợi phiền muộn vì mong ngóng ngày về. Trước đây đã có những anh nuôi kiến, nuôi ruồi, nuôi dán, nuôi dế... thì ở K 1 giờ lại có thêm nghề nuôi bọ ngựa nữa mới lạ đời. Những anh chàng bọ ngựa thân hình dài ngoằng ốm nhách, với hai cái càng lúc nào cũng ở tư thế sẵn sàng chém bất cứ kẻ thù nào đứng trước mặt; nhưng thân hình lại khoác một chiếc áo nhà tu với chiếc áo choàng là đôi cánh dài, hai cái càng lúc nào cũng như chắp lại phía trước để cầu nguyện. Có lẽ chính vì thế mà họ hàng nhà bọ ngựa dù có tên gọi là "mantis" nhưng đồng thời cũng được gọi là "praying mantis". Từ khi nghề nuôi bọ ngựa được phát triển mạnh mẽ trong trại cải tạo, bỗng dưng các chú "mantises" được sủng ái một cách đặc biệt: được các đấng tù nâng niu, nuôi nấng trong các “lâu đài tình ái" làm bằng những chiếc hộp giấy có lót giấy hoặc bông gòn cho êm ấm. Từ ngày về dinh, các chú bọ ngựa tự nhiên trở thành chủ nhân ông của những lâu đài xinh xắn, không còn phải hùng hục lao động vất vả theo kiểu "lao động xã hội chủ nghĩa” mới có miếng ăn đói. Các chú cứ việc ngồi không ăn bám, nói theo ngôn ngữ của đảng ta; và các đấng cải tạo tự nhiên trở thành những người hầu, hàng ngày có nhiệm vụ bắt các con ruồi béo ngậy dâng đến tận miệng chủ nhân bọ ngựa. Công việc chính của chú bọ ngựa bây giờ là ăn ngủ cho béo đẫy đà, mau lớn để đến tuổi trăng hoa sẽ được giao hợp với một nàng lady bọ ngựa nẩy nở mơn mởn như nàng “Monica Lewinsky" cho đám khán giả tù xem. Kể ra tạo hoá cũng quá bất công với những chàng bọ ngựa, vì đời sống của các chàng quá ngắn ngủi; ngay khi vừa biết mùi vị tình ái lần đầu tiên trong đời thì cũng là lúc chàng khăn gói quả mướp đi vào cõi chết; vì phong tục tập quán ngàn đời của giòng giống nhà chàng là sau cơn ân ái, nàng bọ ngựa sẽ xơi tái người tình của mình để "mãi mãi chàng ở trong em... "Có lẽ giống bọ ngựa là giống máu ghen kinh khủng nhất đời, hơn Hoạn Thư ngày xưa gấp ngàn vạn lần... và các chàng bọ ngựa cũng là kẻ sợ vợ nhất thế gian vì chàng chỉ tuân phục nằm tin cho nàng xơi tái mà không oán trách kêu gào, chống cự gì cả.
Gió thổi rì rào trên các tàn lá trứng cá, tạo thành những âm thanh xào xạc. Tiếng nói, tiếng cười hoà lẫn tiếng bàn ghế va chạm, tiếng bát đũa khiến Vũ có cảm giác như đang được tham dự một đám giỗ tết ở gia đình khi xưa, lúc đất nước chưa bị tan hoang bởi sự tàn phá của người cộng sản; chỉ có khác chăng là cái khung cảnh âm u của đêm tối và thực khách tham dự là những hình nhân gầy guộc. Trung sĩ nhất Phạm Văn Ứng, đơn vị 101 Quân Báo (6) đang đặt chiếc đèn chai lù mù lên bàn và Nguyễn Bình Trị, Trung úy thuộc Cục Tâm Lý Chiến (7) đang loay hoay sắp xếp những món ăn trên bàn. Hai cái điếu cày nhôm làm bằng vỏ của trái hoả pháo được chạm trổ tinh vi hình rồng uốn khúc cũng được đặt sẵn trên bàn cùng hộp thuốc lào ba số 8 và bó đóm tre. Hút thuốc lào là cả một cái thú vị; hơi khói thuốc lào phải được đốt bằng đóm tre tước thiệt mỏng thì mới ngon. khói thuốc sẽ chạy từ nõ điếu xuống phần nước ở trong chiếc điếu cầy, phát ra những âm thanh lọc sọc và khói thuốc bị dồn thẳng vào phổi làm tê rần xuống tận đầu ngón tay. Dân hút thuốc lào gọi lúc này là lúc "thủy hoả tương giao", nên các anh chàng ghiền thuốc lào còn hơn ghiền gái. Chẳng thế mà ở tờ giấy nhãn thuốc Ba Số Tám có in hai câu:

"Ông đây muốn bỏ thuốc lào,
Đã chôn điếu xuống lại đào điếu lên... "

để chứng minh rằng cái sự ghiền thuốc lào nó ăn vào tận thâm căn cố đế của con người nên khó lòng mà bỏ lắm thay. Trong khi đó Nguyễn Anh Tuấn, Trung úy sĩ quan thuộc Tiều đoàn 30 Chiến Tranh Chính Trị (7) đang ngồi so giây chiếc đàn guitare tự chế bằng ván ép.
Tiếng loa phóng thanh của Ban Giám Thị trại giam chát chúa phát ra những âm thanh the thé giọng hát nữ, một bản nhạc nghe rất chi là phản nghệ thuật. Đây là "thơ con cóc" của Hồ Chí Minh, được một nhạc sĩ gia nô nào đó của Miền Bắc phổ thành nhạc. Thơ đã là một quái thai nặng mùi xú uế, mà giai điệu của nhạc hòa lẫn với tiếng the thé truyền thống của ca sĩ xã hội chủ nghĩa khiến "bài vè của bác" trở thành càng khó ngửi hơn. Tội nghiệp cho cái lỗ tai của hơn 60 triệu đồng bào cả nước bị tra tấn bằng một loại thơ, nhạc thơm mùi cóc chết ròng rã suốt bao chục năm trời:

"Năm qua thắng lợi vẻ vang
Năm nay tiền tuyến chắc càng thắng to
Vì độc lập , vì tự do
Đánh cho Mỹ cút, đánh cho Ngụy nhào
Tiến lên chiến sĩ, đồng bào
Bắc Nam sum họp xuân nào vui hơn ? "


Vâng! Đúng là vui hơn! Sau ngày hiệp thương thống nhất đất nước để tiến nhanh, tiến mạnh lên xã hội chủ nghĩa, con người vong bản Việt cộng đã biến cả nước thành một địa ngục khổng lồ, đã khiến biết bao gia đình ly tán, đã đẩy trẻ thơ ra khỏi trường học để cầm cuốc xẻng lao động, để lang thang đầu đường xó chợ... Chỉ trong một thời gian ngấn sau khi chiếm cứ Miền Nam, cộng sản đã biến phần đất sung túc, no ấm thành mảnh đất nghèo nàn, lạc hậu, thiếu ăn; họ đã đưa nhân dân Miền Nam bước một bước thụt lùi bằng đôi hia bảy dặm để theo kịp đà lạc hậu, chậm tiến của Miền Bắc xã hội chủ nghĩa. Sau ngày Bắc Nam sum họp, chỉ nhìn thấy những khuôn mặt u sầu, ủ rũ của người dân bị tước đoạt tài sản, bị tịch thu nhà đất, bị đầy ải lên những vùng rừng thiêng nước độc để xây dựng vùng kinh tế mới, được biết thế nào là ăn độn ngô, khoai, sắn, bo bo đến xanh lè cả người. Chỉ thấy con người ốm o gầy mòn vì thiếu thực phẩm, thiếu dinh dưỡng. Chỉ thấy những ánh mắt lờ đờ mỏi mệt vì thiếu ăn và sợ sệt vì không biết khi nào thì bị bắt bớ đầy ải trong các trại cải tạo.
Cộng sản đã thành công trong việc bần cùng hóa nhân dân; chúng đã áp đặt chính sách mậu dịch quốc doanh để kiểm soát chặt chẽ cái bao tử người dân và chúng lại càng thành công hơn trong việc sử dụng bạo lực một cách dã man, tàn nhẫn để khống chế, trấn áp người dân.
Hình ảnh cái loa trong xã hội cộng sản đã trở thành một thứ biểu tượng đặc biệt phó biến rộng rãi ở bất cứ một nước cộng sản nào.
Nó là nỗi ám ảnh kinh hoàng đối với người dân. Khắp cả nước, chỗ nào cũng có những cái loa với tiếng the thé của xướng ngôn viên ré lên từ tờ mờ sáng, khi mọi người đang yên ngủ trong những giấc mơ bình an; nó xoáy vào đến tận óc khiến người ta phải rùng mình nổi gai ốc choàng tỉnh dậy và cứ thế nó kéo dài cho đến khuya. . . Cái loa là nỗi kinh hoàng của biết bao người trong xã hội cộng sản. Cái loa là một hình thức tra tấn, hành hạ khủng khiếp nhất đối với tù nhân; vừa dùng để nhét vào sọ lũ tù bằng thứ lý luận ngô nghê rỗng tuếch, vừa để tuyên truyền đường lối chính sách lừa mị của đảng, nhai đi nhai lại cùng một luận điệu tuyên truyền rẻ tiền ngày này sang ngày khác. Đêm nào cũng vậy, cứ vào lúc 11 giờ khuya, khi mọi người vừa chập chờn trong giấc ngủ mỏi mệt sau một ngày lao động vất vả thì cái loa ré lên, ra rả nói khiến cho người hiền lành nhất của phải phát chửi thề. Người tù trong xã hội cộng sản là những người treo đời mình trên sợi giây định mệnh nghiệt ngã mà ranh giới giữa sự sống và cái chết không còn nghĩa lý.
Tiếng loa phát thanh đêm nay cũng báo hiệu sắp đến giờ giao thừa, sắp đến thời điểm lụi tàn của năm cũ Mậu Ngọ để bước vào năm Kỷ Mùi, cũng là năm từ thứ tư của đời người bại binh trong tủi nhục hằng hằng dưới đáy sâu địa ngục đỏ...
Bạn bè của Vũ đã lục tục kẻo đến, người nào vai cũng vác theo ghế xếp, tay cầm chén đũa. Ghế là những thanh gỗ do người tù tự đóng lấy và mặt ghế là những mảnh vải bao cát gỡ từ các lô cốt. Trong cái xã hội nhỏ bé lao tù, mỗi lần đi đâu đều phải mang theo ghế riêng mới có chỗ ngồi, nhất là đi dự "tiệc tùng, chè cháo"; thực khách phải tự túc ghế ngồi và bát đũa để không gây phiền phức, bối rối cho chủ nhân trong cơn bĩ cực. Nhiều khi nói tiệc tùng cho có vẻ sang trọng, có vẻ "ăn cơm khách"; thực ra có những bữa tiệc trên 10 người dự mà thức ăn chỉ là ngô, hoặc khoai sắn cùng một nồi canh lá lang nấu với vài con nhái nhỏ bằng đầu ngón tay. Người bất được nhái muốn chia sẻ chút protéin hiếm quý từ trong những con nhái nhỏ để đánh lừa cái bao tử luôn luôn thiếu thốn chất protéin. Ngay từ bản chất, những người lù cải tạo đã là những Sĩ quan QLVNCH nên cái máu tiểu tư sản trí thức vẫn ăn sâu trong huyết quản, cho dù ở hoàn cảnh khốn cùng cũng vẫn giữ được cái tư cách đàng hoàng chững chạc, cái tác phong trang trọng. Dĩ nhiên trong tập thề đông đảo cũng có những con sâu bọ hèn mạt, nhưng họ chẳng qua là một thiểu số không đáng kể; với thời gian họ cũng phải sáng mắt, sáng lòng.
Đêm hôm nay khung cảnh của trại vui nhộn hẳn lên vì chỗ nào cũng tụ tập thành từng nhóm nhỏ từ 5, 6 người hoặc đông hơn ngồi tiệc tùng chè chén, ca hát hoặc trò chuyện. Những ánh đèn chai lù mù giăng kín cả sân, rải rác khắp nơi như ánh sao sa trông khung cảnh càng thêm huyền ảo. Nhóm của Vũ đông gần 20 người, toàn là những bạn bè thân thiết quen nhau từ trước 30-4-1975, hoặc đã sống với nhau nhiều năm trong lao tù. Họ trò chuyện vang rền. Những kỷ niệm của một thời, một tuổi lãng đãng như mây trời cuồn cuộn kẻo về vây phủ tâm hồn kẻ tù đầy.
Tiếng cười dòn dã của Dương Cự (8), giọng nói sang sảng của Hoàng Văn Giang (9), cặp mắt ti hí của Phan Lạc Giang Đông (10) tiếng nói nhỏ nhẹ như con gái của Đỗ Văn Thụy (11) hòa lẫn đủ mọi âm thanh cười nói, tiếng bát đũa va chạm... Đặc biệt trong bữa tiệc tất niên hôm nay còn có 1 người "khách ngoại quốc" tham dự đó là Thái Kim Thủy (13), Trung úy Sĩ quan Phòng 2/Quân Đoàn III, bạn cùng khóa và cùng đơn vị với Vũ từ K.5 leo rào sang tham dự nên được bạn bè gọi đùa là “khách ngoại quốc”.
Bữa ăn được tô điểm đậm đà hơn nhờ chút men rượu Bách Nhật do Mẹ Vũ mang gửi chung trong gói quà tết cho anh. Chai rượu được ngụy trang trong một chai nước mắm với đầy đủ nhãn hiệu của Công ty Quốc Doanh Nước Mắm Phan Thiết để che mắt bọn công an coi tù. Mẹ anh còn cẩn thận bôi nước mắm lên nắp và thành chai để xông lên mùi nồng nặc, đánh lừa lũ công an; chính vì vậy khi khám xét trước khi cho vào trại bọn chúng đã không nghi ngờ gì cả. Ngay bản thân Vũ cũng không hề biết có 1 chai rượu trong bao đựng quà của mình; cho đến khi Cán lấy ra để định pha nước mắm tỏi ớt mới phát giác ra món quà đặc biệt ngày cuối năm của Vũ là một chai rượu Bách Nhật. Đây là một loại rượu rất đặc biệt do Mẹ Vũ pha chế hằng năm để dùng trong gia đình. Rượu có vị ngọt, thơm và màu đỏ thẫm như màu rượu vang nhưng ngon hơn vì làm bằng gạo nếp than. Mẹ Vũ ủ và lọc thật công phu mới có được những chai rượu trong vắt không gợn chút cặn đục. Bà dùng loại gạo nếp than thật tốt, nấu thành xôi, không được khô quá cũng không được nhão quá; sau đó trải đều trên những tấm nia đan bằng tre cho nguội, phía dưới có lót lá chuối. Khi nếp đã nguội hẳn, rắc đều lên trên mặt một lớp men rượu (men nhiều hay ít tùy ý; nếu muốn rượu nặng thì cho nhiều men, nếu muốn độ rượu nhẹ thì cho ít men); rồi đem ủ kín. Khoảng 2 ngày sau, xôi bắt đầu lên men, bốc mùi thơm lừng cả nhà và tươm ra những nước “cái rươu” màu đỏ hồng, ngọt lịm. Lúc này đem ra ăn sẽ có mùi vị giống như ăm cơm rượu giết sâu bọ trong dịp Tết Đoan Ngọ, nhưng thơm và ngon ngọt hơn vì làm bằng gạp nếp than. Mẹ Vũ đem tất cả cho vào một cái hũ lớn có dung tích khoảng 50 lít, thêm vào đấy vài lít rượu đế vài củ sâm Cao Ly, Thục Địa và Táo Tàu... đậy nút thật chặt rồi đem chôn ngoài vườn đúng một trăm ngày (vì thế thường được gọi là rượu Bách Nhật). Khi đào lên, đem lọc kỹ sẽ có mùi thơm ngào ngạt và khi uống có vị ngọt. Vì rượu làm để dùng trong nhà nên nhiều khi mẹ chàng chôn cả năm dưới đất; càng chôn lâu, rượu càng ngon.
Các bà mẹ Việt Nam là những người đàn bà tuyệt vời nhất trần gian; các bà hy sinh suốt cả cuộc đời cho chồng con. Các bà lo liệu chu toàn mọi việc từ trong nhà đến ngoài ngõ; từ chuyện quản trị ngân sách gia đình đến chuyện giao tế với xã hội; mọi việc đều được sắp xếp gọn ghẽ đâu vào đấy.
Các bà lo cho con cái từ miếng ăn cho đến manh áo, lúc nào cũng yêu thương bảo bọc các con. Mẹ mất ăn mất ngủ trằn trọc hàng đêm theo bước chân con đang gian lao ở những chiến trường xa. Đến khi nước mất nhà tan mẹ lại lặn lội thân cò tìm con khắp nơi, nuôi con khắp mọi chỗ cho dù xa xôi cách mấy mẹ cũng tìm đến để nuôi con. Tình thương của các bà mẹ Việt Nam thật là vĩ đại hơn bất cứ thứ gì trên đời. Vũ thầm nghĩ nếu anh mà có quyền cao chức trọng, việc (fâu tiên anh làm sẽ là tuyên dương người mẹ Việt Nam cho toàn thế giới phải khâm phục...
Nhờ có chút men rượu nên những món ăn trở nên ngon hơn. Người nào cũng tấm tắc khen rượu Bách Nhật của Mẹ Vũ làm ngon; hơn nữa trong hoàn cảnh khốn cùng của bọn chàng; có chút men rượu đã là điều ngoài dự tưởng. Ai cũng ngạc nhiên với món quà bất ngờ cuối năm mà Vũ nhận được trong thùng quà mà họ cũng nhờ đó được hưởng lây.
Khoảng một tiếng đồng hồ sau, khi những món ăn trên bàn đã được thanh toán một cách cẩn thận; mọi người đều cảm thấy ấm áp cái dạ dày vốn lép kẹp lâu ngày. Ứng, Cán và Hiếu Voi thu dọn chiến trường để chuyển sang tiết mục văn nghệ bỏ túi.
Đêm càng khuya, gió lạnh heo hút; mọi người yên lặng lắng hồn minh theo tiếng đàn, tiếng hát. Tiếng hát của Nguyễn Anh Tuấn trầm ấm, lôi kéo người nghe nhớ lại những kỷ niệm hào hùng của người lính chiến VNCH qua những bài Chiến đấu ca đã một thời vang vang trên khắp mọi nẻo đường đất nước. Những bài hát có tác động tinh thần làm người nghe phải rưng rưng nước mắt khi nghĩ đến bạn bè của mình đã ngã xuống một cách kiêu hùng trên khắp mọi địa danh sôi động của 4 Vùng Chiến thuật. Máu của quân dấn Miên Nam đã thấm xuống lòng đất mẹ để bảo vệ từng tấc đất thân yêu không bị lọt vào tay giặc thù vong nô Việt cộng.
Máu của họ đã tô thắm ngọn cờ vàng ba sọc đỏ và viết nên những trang sử bêu hùng. Giờ đây trong cảnh nước mất nhà tan, mang thân phận tù đầy trong đáy sâu địa ngục đỏ, họ là những người bị bội phản đớn hèn bởi ngay những người lãnh đạo của họ; bởi ngay những kẻ gọi là đồng minh của họ. Họ đang phải ngày qua ngày treo đời mình trên sợi giây định mệnh nghiệt ngã, kéo dài kiếp tù đầy trong những trại biến hình của cộng sản. Họ đang ngậm những trái bồ hòn để đi trên đoạn đường núi sọ, lòng nuôi căm thù ngút lửa. Họ xót xa khi nghĩ đến sự hy sinh cao quý của bạn bè mình cho quê hương yêu dấu mà nay bị bội phản đớn hèn...
Tiếng hát của Tuấn lãng đãng bay trong không gian ùn ắng của đêm khuya, làm se sắt lòng người. Vũ bất chợt rùng mình không hiểu vì lạnh hay vì nghĩ đến bản nhạc Tuấn đang hát. Vũ còn nhớ hình ảnh của Tuấn cùng với cây đàn guitare và bộ treillis, đi khắp mọi nơi để trình diễn cho các đơn vị chiến đấu. Cũng vẫn dáng dấp thư sinh cao gầy ấy, giọng hát truyền cảm ấy và tiếng đàn réo rất ấy; ào bây giờ Vũ thấy Tuấn thành công hơn trước, gây được sự xúc động cho người nghe nhiều hơn trước.
Đêm đã thật khuya, sương xuống ướt đẫm vai áo, gió vi vu trên cao, làm rung động nhè nhẹ ào tàn trứng cá. Đa số anh em đã giải tán đi ngủ để sáng ngày mai còn theo dõi trận đấu bóng chuyền giữa các Đội. Những ánh đèn chai không còn như sao sa ở các khoảng trống giữa hai dãy nhà, khiến bóng tối dày đặc thêm và không gian cũng yên tĩnh hơn. Nhóm của Vũ cuối cùng chỉ còn lại 4 người: Vũ, Cán, Tuấn và Ứng. Cây đàn guitare đã được dựng ở hiên nhà. Tiếng nõ điếu cày lọc sọc và ánh lửa lập lòe lừ cây đóm tre trên tay Cán. Mùi khói thuốc lào thơm phức tan mang trong không khí mù đặc hơi sương. Tuấn đang thì thào kể cho Ứng nghe về cuộc đời ca hát của anh ngày xưa, về mối tình với cô ca sĩ của Tiểu đoàn 30 CTCT tên Mai Khanh và những kỷ niệm khi đóng phim Sóng Tình với Thẩm Thúy Hằng...
Năm mới đã bất đầu; không biết Vũ và bạn bè còn phải chịu đựng bao nhiêu năm tháng nhục nhằn trong lao tù của lũ cộng sản xảo quyệt và đê hèn. Lòng Vũ trống trải. Anh đứng dậy, lững thững đi vào nhà với những ý nghĩ vẩn vơ, đầu óc rối mù. Đã 4 mùa xuân trôi qua hờ hững. Bốn mùa Xuân làm kiếp bại binh trong tận cùng đáy sâu của lao tù. Đây là rân đầu tiên Vũ cảm thấy buồn da diết...

VŨ UYÊN GIANG
Ghi chú:
(1 ) Nguyễn Ngọc Cán hiện đang định cư ở Paris, Pháp
(2) Hồ Văn Hiếu đang ở Los Angeles, CA.
(3) ông Nguyễn Quang Quýnh, Thượng sĩ Phòng 2/ Tiều khu Phước Long đã qua đời ở VN
(4) Lê Văn Lâm hiện ở Chicago, Illinois
(5) Phạm Anh Tuấn hiện cùng vợ con sống ở Houston, Texas
(6) Trung sĩ Phạm Văn Ứng thuộc Đơn vị 101 hiện còn ở VN
(7) Nguyễn Bình Trị hiện cư ngụ ở Santa Ana, Califomia
(8) Nguyễn Anh Tuấn nghe nói đã sang Mỹ theo diện HO nhưng không biết ở Tiểu bang nào
(9) Dương Cự, Trung úy Quân Pháp, ủy viên Chính phủ thuộc Tòa án Quân sự Quân Đoàn 4. Đã qua đời ở VN từ Tháng 4/2006
(10) Hoàng Văn Giang, Đại úy Đại đội trưởng thuộc Sư đoàn 1BB. Hiện đang cư ngụ ở Chicago, Illinois. Anh còn có bút hiệu là Việt Dương
(11) Phan Lạc Giang Đông, Trung úy CTCT Không Quân. Đông đã qua đời sau khi được sang Hoa kỳ và định cư ở Seattle, WA. Đông là em ruột của Phan Lạc Tuyên, người quân nhân BĐQ đã tham gia đảo chánh TT.Ngô Đình Diệm năm 1960 nhưng bị thất bại phải chạy sang Nam Vang. Tại Nam Vang Tuyên đã đi theo VC và được VC cho sang Ba Lan học về sử
(12) Đỗ Văn Thụy, Đại úy Huấn luyện viên của Trường Bộ Binh Thủ Đức. Hiện đang cư ngụ ở Hoa Kỳ
(13) Thái Kim Thủy hiện cư ngụ tại Albuquerque, New Mexico